Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 10
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_mon_ngu_van_lop_10.doc
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 10
- ÔN TẬP NGỮ VĂN 10 BÀI: PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (TRƯƠNG HÁN SIÊU) I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả - Trương Hán Siêu (?-1354), Tự Thăng Phủ. - Quê quán: làng Phúc Thành- huyện Yên Ninh (nay thuộc thị xã Ninh Bình). - Là môn khách của Trần Hưng Đạo. - Khi mất được vua tặng tước Thái bảo, Thái phó, được thờ ở Văn Miếu. - Con người: cương trực, học vấn uyên thâm, được vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng. - Tác phẩm của ông để lại ko nhiều, hiện còn 4 bài thơ và 3 bài văn, trong đó có Phú sông Bạch Đằng. 2. Địa danh lịch sử sông Bạch Đằng: - Là một nhánh sông đổ ra biển thuộc Quảng Ninh, gần Thuỷ Nguyên (Hải Phòng) - Gắn với các chiến công chống quân Nam Hán (Ngô Quyền- 938), đại thắng quân Nguyên- Mông (Trần Quốc Tuấn- 1288). Sông Bạch Đằng- danh thắng lịch sử và là nguồn đề tài văn học. 3. Thể phú: Là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng tả cảnh vật, phong tục, kể sự vật, bàn chuyện đời. 4. Bố cục: - Đoạn mở: từ đầu “còn lưu!”: Tráng chí và cảm xúc của nhân vật khách trước cảnh sắc trên sông Bạch Đằng. - Đoạn giải thích: tiếp “nghìn xưa ca ngợi”: Các bô lão kể lại các chiến tích trên sông Bạch Đằng. - Đoạn bình luận: tiếp “chừ lệ chan”: Các bô lão suy ngẫm và bình luận về nguyên nhân chiến thắng trên sông Bạch Đằng. - Đoạn kết: còn lại Lời ca khẳng định, đề cao vai trò, đức độ của con người Đại Việt của các bô lão và nhân vật khách. II. Đọc- hiểu: 1. Đoạn mở: 1. Hình tượng nhân vật khách: tư thế của một con người có tâm hồn khoáng đạt. - Nhân vật khách chính là sự phân thân của tác giả, tạo tính khách quan cho những điều sẽ nói.
- - Khách tìm đến sông Bạch Đằng không chỉ vì yêu thiên nhiên, tìm hiểu cảnh trí đất nước, bồi bổ tri thức mà còn vì lòng ngưỡng mộ nơi có chiến công oanh liệt và khát vọng tìm hiểu lịch sử dân tộc, noi gương của Tử Trường xưa (sử gia nổi tiếng Trung Quốc đời Hán). - Hoài bão lớn lao: "Nơi có ... chẳng biết"; "Đầm Vân Mộng chứa ......vẫn còn tha thiết". - Tráng chí của khách được gợi lên qua hai loại địa danh: + Địa danh trong diển cố Trung quốc: rong chơi bể lớn, Sông Nguyên, Tương, Vũ huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ,Tam Ngô, Bách Việt - những vùng đất nổi tiếng, khách đã đi qua bằng sách vở. + Địa danh thứ hai là những đia danh đất Việt, với không gian cụ thể: cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng hình ảnh hiện tại mang tính đương đại hiện ra trước mắt => Khách là người yêu cảnh trí thiên nhiên, có thú du ngoạn, tâm hồn khoáng đạt, tâm huyết với lịch sử dân tộc - Qua cái nhìn của khách, cảnh sông Bạch Đằng được khắc hoạ hùng vĩ, hoành tráng Bát ngát sóng kình muôn dặm, Thướt tha đuôi trĩ một mầu. Nước trời:một sắc, Phong cảnh: ba thu Song cũng ảm đạm, hắt hiu "bờ lau san sát, bến lách đìu hiu – Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô". - Đứng trước cảnh sắc Bạch Đằng, tác giả cảm thấy: + Phấn khởi, tự hào trước bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng mà trong sáng, thơ mộng. + Buồn thương, nuối tiếc trước vẻ ảm đạm, hiu hắt, hoang vu do thời gian đang xóa nhòa, làm mờ hết những dấu tích oai hùng của chiến trường xưa: “Buồn vì ...còn lưu”. => Cảm hứng hoài cổ - một xúc cảm quen thuộc của các nhà thơ xưa trước những địa danh lịch sử. 2. Đoạn giải thích: - Hình tượng các bô lão có thể là nhân vật có thật (là những người dân địa phương ven sông Bạch Đằng mà tác giả gặp trên đường vãn cảnh) hoặc có thể họ là nhân vật hư cấu (là tâm tư tình cảm của tác giả hiện thân thành nhân vật trữ tình để những nhận xét về các trận chiến trên sông Bạch Đằng trở nên khách quan hơn). - Vai trò: + Là người chứng kiến chiến tích lịch sử. + Là người kể lại các chiến tích hào hùng đó cho khách nghe. - Thái độ của các bô lão đối với khách: nhiệt tình, hiếu khách và tôn kính khách. - Các chiến tích trên sông Bạch đằng qua lời kể của các bô lão: + Hai chiến tích: Ngô chúa phá Hoằng Thao và Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã. + Quang cảnh, ko khí chiến trận:
- - Binh lực hùng hậu:+ Thuyền bè muôn đội. + Tinh kì phấp phới. + Hùng hổ sáu quân. + Giáo gươm sáng chói. - Tính chất gay go, quyết liệt: + Hình ảnh phóng đại: nhật nguyệt- mờ; trời đất- đổi. + Đối lập: sự huyênh hoang, hung hăng, kiêu ngạo của kẻ thù sự thực thất bại thảm hại. + Hình ảnh so sánh: Thế trận của ta và địch – Trận Xích Bích, Hợp Phì (những trận đánh lớn, quyết liệt, nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc) khẳng định chiến thắng hào hùng, vang dội của ta và bày tỏ niềm tự hào dân tộc. - Thái độ, giọng điệu của các bô lão khi kể chuyện: nhiệt huyết, tự hào, mang cảm hứng của người trong cuộc. - Ngôn ngữ lời kể: + Súc tích, cô đọng, vừa khái quát, vừa gợi lại được diễn biến, ko khí của các trận đánh rất sinh động (“Đây là buổi... Hoằng Thao”). + Các câu dài, dõng dạc tạo ko khí trang nghiêm (“Đây là...Hoằng Thao”). + Các câu ngắn gọn, sắc bén gợi khung cảnh chiến trận căng thẳng, gấp gáp ( “Thuyền bè...sáng chói”) 3. Đoạn bình luận: - Nguyên nhân làm nên thắng lợi: + Thời thế thuận lợi (thiên thời): “trời cũng chiều người”. + Địa thế núi sông (địa lợi): “trời đất cho nơi hiểm trở”. + Con người- người tài, có đức lớn giữ vai trò quyết định quan trọng nhất đến thắng lợi. - Tác giả gợi lại hình ảnh Trần Quốc Tuấn và những hình ảnh so sánh với người xưa khẳng định sức mạnh, tài năng và đức lớn của con người- nhân tố quyết định thắng lợi. Cảm hứng mang giá trị nhân văn và có tầm triết lí sâu sắc. 4. Đoạn kết: - Tuyên ngôn về chân lí của các bô lão: + Những người bất nghĩa (Lưu Cung, Hốt Tất Liệt) sẽ tiêu vong. + Những người anh hùng, nhân nghĩa (Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì mãi lưu danh thiên cổ. Đó là chân lí có tính chất vĩnh hằng như sông bạch đằng ngày đêm “luồng to sóng lớn đổ về bể đông” muôn đời theo quy luật tự nhiên. - Lời ca tiếp nối của khách: + Ca ngợi sự anh minh của 2 vị thánh quan (Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông). + Ca ngợi chiến tích trên sông Bạch Đằng.
- + Khẳng định chân lí: vai trò và vị trí quyết định của con người trong tương quan với yếu tố đất đai hiểm yếu. Niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao đẹp. III. Tổng kết 1. Nội dung: - Qua những hoài niệm về quá khứ, Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước những chiến công trên sông, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất và đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. - Tác phẩm còn chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc khẳng định và đề cao vai trò của con người trong lịch sử. 2. Nghệ thuật: - Bố cục: chặt chẽ. - Hình tượng nghệ thuật: sinh động, vừa gợi hình sắc trực tiếp vừa mang ý nghĩa khái quát, triết lí. - Ngôn ngữ: trang trọng, hào sảng vừa lắng đọng, gợi cảm. Bài phú là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong VHTĐ VN. BÀI TẬP VỀ NHÀ ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: (1) Trương Hán Siêu (? – 1354), tự là Thăng Phủ, quê ở thôn Phúc Am, xã Ninh Thành, nay thuộc thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”. Là người tài đức vẹn toàn nên khi qua đời, ông được thờ ở Văn Miếu. Tác phẩm của Trương Hán Siêu có: Bạch Đằng giang phú, Dục Thuý sơn Linh Tế tháp kí (Bài kí ở tháp Linh Tế trên núi Dục Thuý), Khai Nghiêm tự bi kí (Bài kí trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh, Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với xã tắc của một người đề cao Nho học. (2) Phú sông Bạch Đằng là loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp chủ – khách để thể hiện nội dung, vận văn và tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ. Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biền ngẫu hoặc lối văn xuôi có vần, khác với phú Đường luật (có từ đời Đường) có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ. (3) Bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện niềm hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng n- ước và giữ nước. (Học tốt Ngữ văn 10 nâng cao,Tập 2,NXBĐHQG, 2006) 1/ Nêu ý chính của văn bản? 2/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản ? 3/ Viết đoạn văn ngắn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ giá trị lịch sử của dòng sông Bạch Đằng.
- Đề 2: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: (1)Mồ thù như núi, cỏ cây tươi, (2)Khách cũng nối tiếp mà ca rằng: Sóng biển gầm vang, đá ngất trời. Anh minh hai vị Thánh quân, Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết, Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh. Nửa do sông núi, nửa do người. Giặc tan muôn thủa thanh bình, (Sông Bạch Đằng, Nguyễn Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao. Sưởng) (Trích Phú Sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu) 1/ Xác định các biện pháp tu từ và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp đó trong văn bản (1) ? 2/ Nêu nội dung chính của văn bản (2) ? 3/ So sánh điểm giống nhau và khác nhau về nội dung của văn bản (1) và (2)? 4/ Viết đoạn văn ngắn (5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về vai trò của con người trong cuộc sống hôm nay. Đề 3: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: ( )Cái hay của bài phú ở chỗ chiến công Bạch Đằng đã không bị huyền thoại hoá. Nó có thể được cắt nghĩa rõ ràng, truy cứu được nguyên nhân. Ở đây xuất hiện ba yếu tố của binh pháp cổ: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. “Quả là trời cho nơi hiểm trở” là địa, cái tài lớn của kẻ làm tướng (như Hưng Đạo) là được lòng dân, là nhân (tổ chức trưng cầu các tướng sĩ và bô lão nên hoà hay nên đánh ở bến Bình Than và Hội nghị Diên Hồng). Còn yếu tố thời cơ thì phải chăng việc Hưng Đạo Đại Vương “coi thế giặc nhàn” đã chuẩn bị sẵn sàng mọi con đường tiến lui đó là thiên. Trong ba yếu tố thiên, địa, nhân ấy, vai trò của chủ thể là quyết định. Cái “đức cao” của người anh hùng là được lòng dân và biết tạo ra thời thế (chứ không trông chờ vào thời thế). Câu kết của bài phú đúng là một chân lí vĩnh hằng : Giặc tan muôn thuở thăng bình, Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao. (Văn bản ngữ văn 10, gợi ý đọc hiểu và lời bình- Vũ Dương Quỹ) 1/ Nêu ý chính của văn bản trên? 2/ Xác định thao tác lập luận chính và phương thức biểu đạt của văn bản ? 3/ Người viết tỏ thái độ, tình cảm như thế nào khi phát hiện ra cái hay của bài phú? 4/ Qua văn bản, viết đoạn văn ngắn (5 đến 7 dòng) suy nghĩ về nhận định: Cái “đức cao” của người anh hùng là được lòng dân và biết tạo ra thời thế. ********************************
- ÔN TẬP: ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (NGUYỄN TRÃI) I. Tìm hiểu chung 1. Hoàn cảnh ra đời - Mùa đông năm 1427, cuộc kháng chiến chống giặc Minh hoàn toàn thắng lợi. - Năm 1428: Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đình Hậu Lê. Thừa lệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo cho toàn dân được biết chiến thắng vĩ đại tuyên bố nền độc lập của dân tộc. 2. Về thể loại Cáo: Cáo là thể văn có ý nghĩa tuyên ngôn nhằm công bố cho mọi người biết những chủ trương chính trị trọng đại của toàn dân tộc như việc xác lập hòa bình, đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng vương triều mới. 3. Nhan đề: - Đại cáo: bài cáo lớn dung lượng lớn. tính chất trọng đại. - Bình: dẹp yên, bình định, ổn định. - Ngô: giặc Minh (ý căm thù, khinh bỉ) Bài cáo lớn ban bố về việc dẹp yên giặc Ngô. II. Đọc hiểu 1. Đoạn 1: Nêu cao luận đề chính nghĩa: * Tư tưởng nhân nghĩa: - Trước hết tác giả đã đứng trên lập trường nhân dân để nêu cao tư tưởng nhân nghĩa: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo - Nhân nghĩa vốn là quan niệm tư tưởng nhân sinh quen thuộc của Nho giáo. Nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí Và cũng theo quan niệm của nho giáo, nhân nghĩa là cái gốc của sự việc. Trong thư số 8 trả lời Phương Chính, Nguyễn Trãi cũng đã từng nói: “Phàm mưu đồ việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, làm nên công lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu” - Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến trong bài cáo gắn liền với hai chữ “yên dân”. Và muốn thực hiện được điều đó, muốn nhân dân được bình yên, ấm no, hạnh phúc thì việc đầu tiên là phải “lo trừ bạo” nghĩa là phải chống tham tàn bạo ngược, chống lại giặc xâm lăng. => Bằng hai câu mở đầu, không chỉ nêu nên tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi còn nhấn mạnh mục đích và phương tiên để thực hiện tư tưởng nhân nghĩa đó. Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lược là nhân nghĩa là phù hợp với đạo lí của thời đại.
- * Chân lý khách quan về sự tồn tại, độc lập chủ quyền của Đại Việt - Sau khi khẳng định lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến về mặt đạo lý, Nguyễn Trãi tiếp tục sự tồn tại của nước Đại Việt như một chân lý khách quan không thể chối cãi: Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Sông núi bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác - Nền văn hoá Đại Việt, nền văn hoá Thăng Long được hình thành, xây dựng và phát triển qua một quá trình lịch sử “đã lâu”, đã có “từ trước” đằng đẵng mấy nghìn năm. Đó là thực tế, sự hiển nhiên, không thể phủ nhận. - Đại Việt không chỉ có lãnh thổ chủ quyền “sông núi bờ cõi”, mà còn có thuần phong mỹ tục mang bản sức riêng, có lịch sử riêng, chế độ riêng “bao đời gây nền độc lập”, đã từng “xưng đế một phương, có nhiều nhân tài hào kiệt Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém. Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có - Giọng điệu câu văn ngắn gọn, khoẻ, chắc, cách lập luận chặt chẽ như một lời tuyên bố đanh thép, tác giả đã nêu bật được sự tồn tại của một quốc gia nhỏ bé bên cạnh một quốc gia lớn trong không gian, thời gian, với truyền thống đấu tranh anh dũng của nó. - Truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của dân tộc còn đươc thể hiện qua việc liệt kê ra một loạt chiến công vĩ đại của dân tộc. Những chiến công của anh hùng dân tộc ta như Ngô Quyền, Hưng Đạo còn ghi trong sử sách, những trận Bạch Đằng, Hàm Tử được muôn đời ca ngợi. Đó chính là những bằng chứng lịch sử hùng hồn nhất. Hãy xem Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô bị giết tươi, Ô Mã bị bắt sống. Đó là một thực tế khách quan chứng minh rằng bất kì kẻ thù nào dám xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ Đại Việt sẽ đều chuốc lấy bại vong mà thôi.. - Với lối diễn đạt sóng đôi tương phản, tác giả đã khẳng định được truyền thống đấu tranh cũng như tư thế độc lập tự cường của dân tộc ta. Ta nói đến truyền thống dân tộc để ta tự tin, giặc nghe để chúng kinh hoàng. Quả vậy, dân tộc ta chẳng những đã phát huy thắng lợi trong việc đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc, mà còn tiếp tục đấu tranh đánh đổ ách thực dân Pháp, Nhật, Mỹ xâm lược. Và trước sau, thời nào cũng vậy, toàn thắng ắt về ta. . Đoạn 2: Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu và nước mắt: - Những âm mưu và tội ác của kẻ thù:
- + Âm mưu xâm lược quỷ quyệt của giặc Minh: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa”. Chữ “nhân”, “thừa cơ” vạch rõ luận điệu giả nhân giả nghĩa, “mượn gió bẻ măng” của kẻ thù. Nguyễn Trãi đứng trên lập trường dân tộ. + Tố cáo chủ trương, chính sách cai trị vô nhân đạo, vô cùng hà khắc của kẻ thù: • Tàn sát người vô tội - “Nướng dân đen... tai vạ”. • Bóc lột tàn tệ, dã man: “Nặng thuế...núi”. • Huỷ diệt môi trường sống: “Người bị ép...cây cỏ”. Nguyễn Trãi đứng trên lập trường nhân bản. - Hình ảnh nhân dân: tội nghiệp, đáng thương, khốn khổ, điêu linh, bị dồn đuổi đến con đường cùng. Cái chết đợi họ trên rừng, dưới biển: “Nặng nề... canh cửi”,... - Hình ảnh kẻ thù: tàn bạo, vô nhân tính như những tên ác quỷ: “Thằng há miệng... chưa chán”. - Nghệ thuật viết cáo trạng: + Dùng hình tượng để diễn tả tội ác của kẻ thù: “Nướng dân đen ...tai vạ”. + Đối lập: Hình ảnh người dân vô tội Kẻ thù (bị bóc lột, tàn sát dã man. tàn bạo, vô nhân tính.) + Phóng đại:“Độc ác thay, trúc Nam Sơn ko ghi hết tội/ Dơ bẩn thay, nước Đông Hải ko rửa sạch mùi” Trúc Nam Sơn- tội ác của kẻ thù. Nước Đông Hải- sự nhơ bẩn của kẻ thù. + Câu hỏi tu từ: “Lẽ nào...chịu được?” tội ác trời ko dung đất ko tha của quân thù. + Giọng điệu: uất hận trào sôi, cảm thương tha thiết, nghẹn ngào đến tấm tức. III. TỔNG KẾT Với nghệ thuật chính luận tài tình, với cảm hứng trữ tình sâu sắc, Đại cáo bình Ngô tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập, áng thiên cổ hùng văn của dân tộc ta BÀI TẬP VỀ NHÀ Đề 1: Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi sau: Ngô là ai? Dụng ý của Nguyễn Trãi khi dùng hai chữ “bình Ngô”? Ngô là nước Ngô, người Ngô, giặc Ngô! Vâng! Nhưng nguồn gốc của chữ Ngô từ đâu ra? Chu Nguyên Chương gốc người Hào Châu, mà, Hào châu xưa, thuộc đất Ngô. Vì thế, Ngô chính là quê cha đất tổ của người sáng lập ra nhà Đại Minh: Thái Tổ Chu Nguyên Chương! Hơn nữa, khi sự nghiệp đang trên đà thắng lợi (chiếm xong lộ Tập Khánh), năm 1356, Chu Nguyên Chương xưng Ngô Quốc công, ý muốn nhắc tới nguồn gốc của mình: người đất Ngô. Tám năm sau, khi sự nghiệp sắp thành công, ông cải xưng là Ngô Vương, ý muốn hồi cố và ước mơ sự nghiệp của mình sánh với nước Ngô thời cực thịnh dưới quyền Ngô Vương Hạp Lư đánh tan nước
- Sở hùng mạnh, truyền ngôi cho con là Ngô Vương Phù Sai; Phù Sai lại diệt nước Việt, cầm tù Việt Vương Câu Tiễn Bởi vậy, Ngô ở đây vừa là tước hiệu của Minh Thái Tổ khi chưa lên ngôi: Ngô Quốc công, Ngô Vương; vừa là nguồn gốc, quê cha đất tổ của người khai sáng ra nhà Đại Minh: Chu Nguyên Chương! “Bình Ngô” là “bình” tận gốc gác nòi giống họ Chu – Thái Tổ nhà Minh. Ba đời Vua Minh xâm lược nước ta là, Thành Tổ Chu Đệ, Nhân Tông Chu Cao Xí, Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ Tuyên Đức. Nếu kể từ thái Tổ Chu Nguyên Chương, Tuyên Đức là đời vua Minh thứ năm. “Bình Ngô” là bình tận ông thượng tổ năm đời của “đứa trẻ ranh” Tuyên Đức. Hai chữ “Đại cáo” nói riêng, nhan đề Bình Ngô đại cáo nói chung, mang ý nghĩa thâm thúy và sâu sắc như vậy( ) (Bình Ngô đại cáo - Một số vấn đề về chữ nghĩa-PGS TS Nguyễn Đăng Na) 1/ Nêu những ý chính của văn bản. 2/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản trên? 3/ Câu văn nào trong văn bản đánh giá nét độc đáo khi dùng từ Bình Ngô của Nguyễn Trãi theo nhận xét của người viết ? Đề 2: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi 1)Sông núi nước Nam, vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. (Sông núi nước Nam, SGK, Ngữ văn 7) (2)“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Song hào kiệt đời nào cũng có.” (Đại cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi , Ngữ văn 10, Tập hai, tr.17- NXB Giáo dục, 2006) 1/ Nêu nội dung chính của văn bản (1) và (2)? 2/ Giải thích ý nghĩa các từ: Nhân nghĩa, yên dân, trừ bạo trong văn bản (2)? 3/ Xác định điểm giống nhau và khác nhau trong nội dung khẳng định lời Tuyên ngôn độc lập của 2 văn bản trên ? 4/ Từ 2 văn bản, viết một văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) trình bày suy nghĩ của em về ý thức bảo vệ tổ quốc của tuổi trẻ trong giai đoạn hiện nay. Đề 3: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi
- (1)“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” (Trích Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn, SGK, Ngữ văn 8) (2) “Ta đây: Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Núi Lam Sơn dấy nghĩa Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh, Chốn hoang dã nương mình Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ. Ngẫm thù lớn há đội trời chung Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Căm giặc nước thề không cùng sống Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, trời Chính lúc quân thù đang mạnh.” (Đại cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi ) 1/ Nêu nội dung chính của văn bản (1) và (2)? 2/ Hãy so sánh nỗi lòng của Trần Quốc Tuấn ở Hịch tướng sĩ và tâm trạng của Lê Lợi ở Đại cáo bình Ngô? 3/ Từ 2 văn bản, viết một văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện nay. Đề 4: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Song hào kiệt đời nào cũng có. (Trích Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi, 2012, tr. 17) Điếu phạt: (điếu: thương, phạt: trừng trị) rút từ ý “Điếu dân phạt tội” nghĩa là thương dân, đánh kẻ có tội. 1/ Văn bản đã xác định nền độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt ở những yếu tố nào? 2/ Việc sử dụng những từ ngữ: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, bao đời nhằm khẳng định điều gì? 3/ Từ việc đọc hiểu văn bản trên, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay. *********************************
- ÔN TẬP: HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA Bài tập: Trình bày suy nghĩ của bản thân về câu nói sau đây? Liên hệ tình hình sử dụng người tài của Đảng và Nhà nước trong thời đại ngày nay. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên”. 1. Giải thích câu nói: Câu nói của Thân Nhân Trung nhằm nêu cao vai trò của hiền tài đối với quốc gia - Hiền tài: chỉ những người có tài cao, học rộng và có đạo đức. - Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của sự vật => Hiền tài là nguyên khí, nghĩa là khẳng định những người có tài cao, học rộng và có đạo đức chính là khí chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội. Mối quan hệ giữa hiền tài đối với vận mệnh đất nước: người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh – suy của một đất nước, hiền tài dồi dào thì đất nước hưng thịnh, hiền tài cạn kiệt thì đất nước suy yếu. Như vậy muốn cho nguyên khí thịnh, đất nước phát triển thì không thể không chăm chút, bồi dưỡng nhân tài. 2. Đánh giá – mở rộng: - Ý kiến của Nhân Thân Trung thật sâu sắc, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước qua mọi thời đại. - Câu nói ấy cũng là bài học cho muôn đời sau, cho bản thân mỗi người suy nghĩ và hành động. 3. Liên hệ tình hình sử dụng người tài của Đảng và Nhà nước trong thời dại ngày nay - Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng người tài, đã có những chính sách lớn để đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài phục vụ công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, - Ngay từ khi mới giành được chính quyền sau Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã có sắc lệnh kêu gọi người hiền tài ra gánh vác việc nước (1945). Từ đó đến nay, nhà nước ta đã có những cải cách về giáo dục, tạo điều kiện cho tất cả trẻ em đều được đến trường; có chính sách đãi ngộ người tài - Coi trọng người tài ở quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” - Tuy nhiên, thực tế điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ nhân tài hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Điều đó làm cho việc trọng dụng nhân tài chưa thật tốt: vẫn còn hiện tượng chảy máu chát xám, nhân tài chưa được coi trọng, chưa có điều kiện tốt nhát để phát triển bản thân, một số khác sau khi được đào tạo đã không phục vụ cho đất nước 4. Bài học cho bản thân: *Nhận thức:
- - Điều kiện học tập trong môi trường xã hội và trong nhà trường hiện nay cho người học có thể phát huy tài năng của mình. - Vì thế, học tập và trau dồi tài năng để có thể đóng góp trí lực một cách tốt nhất dựng xây đất nước. Đó là trách nhiệm của tuổi trẻ hôm nay. * Hành động: - Ra sức học tập, rèn đức luyện tài để trở thành hiền tài góp phần phát triển đất nước. - Học thật để có năng lực thật sự, để có thể “hóa thân cho dáng hình xứ sở” từ những việc làm thiết thực nhất. Kết bài: - Khẳng định sự đúng đắn của câu nói - Khẳng định quyết tâm của bản thân. *********************************

