Đề cương Ôn tập môn Ngữ văn Lớp 11
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương Ôn tập môn Ngữ văn Lớp 11", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_mon_ngu_van_lop_11.doc
Nội dung tài liệu: Đề cương Ôn tập môn Ngữ văn Lớp 11
- ÔN TẬP: XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT (Phan Bội Châu) I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả : - Phan Bội Châu (1876-1940), biệt hiệu Sào Nam, quê Nam Đàn, Nghệ An. - Ông là nhà yêu nước, lãnh tụ của phong trào cách mạng đầu TK XX, có tấm lòng yêu nước tha thiết, nồng cháy mặc dù sự nghiệp cứu nước không thành. - Là nhà văn lớn, cây bút xuát sắc của thơ văn cách mạng những năm đầu thế kỉ XX. Ông là đại diện đầu tiên tiêu biểu nhất cho đội ngũ các nhà cách mạng biết dùng thơ văn như một thứ vũ khí chiến đấu hiệu quả. 2. Tác phẩm - Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1905, trước lúc lên đường sang Nhật Bản, ông làm bài thơ này để từ giã bạn bè, đồng chí. - Thể loại: Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. - Bố cục: 4 phần đề - thực – luận – kết - Chủ đề: Bài thơ thể hiện quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, thực hiện lý tưởng cao cả vì dân vì nước của Phan Bội Châu II. Đọc – hiểu 1. Hai câu đề: Quan niệm mới về chí làm trai, và tư thế tầm vóc của con người trong vũ tụ: Làm trai phải lạ ở trên đời / Há để càn khôn tự chuyển dời - Câu thơ đầu bộc lộ chí làm trai vốn là một lí tưởng nhân sinh trong thời đại phong kiến: Đã là trang nam nhi thì phải tạo dựng sự nghiệp phi thường để lưu danh thiên cổ. - Trong bài thơ này, Phan Bội Châu bộc lộ một tư tưởng tiến bộ: chí làm trai phải gắn với sự nghiệp cứu nước giải phóng quê hương. Phan Bội Châu đã ghi dấu ấn với sông với núi bằng khát vọng xoay trời chuyển đất: "Há để càn khôn tự chuyển dời", không để đất trời tự xoay vần, phải chế ngự sự biến đổi ấy bằng những hành động, việc làm xứng đáng với thân nam nhi. 2/ Hai câu thực: Ý thức trách nhiệm cá nhân giữa cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ / Sau này muôn thuở há không ai - Câu thơ thứ 3 khẳng định vai trò cá nhân đối với vận mệnh đất nước và cũng là thể hiện một cái "tôi" đầy trách nhiệm sẵn sàng gánh vác trách nhiệm với cơ đồ xã tắc. Trong thời cuộc rối ren đầu thế kỷ XX, sự vùng vẫy của cái tôi kia thật đáng trân trọng. Tác giả đã dùng từ “tớ” để thể hiện ý chí quyết tâm của mình với giọng điệu hóm hỉnh, trẻ trung, đó cũng là cái ngông của nhà thơ. - Tác giả đặt ra câu hỏi "Sau này muôn thuở há không ai ". Câu thơ có dáng dấp một câu hỏi nhưng cũng là một câu khẳng định ắt sau này có người làm nên nghiệp lớn, lưu danh muôn thuở cứu dân cứu nước. Lời thơ bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai, như sự trao gửi lịch sử vào tay hậu thế.
- 3/ Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ - Quan niệm sống đúng, sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cuộc: "Non sông đã chết sống thêm nhục / Hiền thánh còn đâu học cũng hoài". - Lẽ nhục – vinh mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục. Ý nghĩa của nó đồng nhất với quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX. - Câu thơ thứ 5 bày tỏ một thái độ dứt khoát, được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm khẩu khí anh hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Đó là khí tiết bất khuất của những con người không cam chịu cuộc đời nô lệ tủi nhục. - Phan Bội Châu cũng thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một thực tế chua xót là ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo đối với tình cảnh nước nhà lúc bấy giờ. Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan, cho nên nếu cứ khư khư theo đuổi thì chỉ hoài công vô ích mà thôi. - Ông đặt sự nghiệp giải phóng lên hàng đầu, kêu gọi từ bỏ lối học cũ, xếp bút nghiên, cầm lấy gươm súng giành lại nước nhà -> Tư tưởng mới mẻ này xuất phát từ tinh thần dân tộc, nhiệt huyết cứu nước của PBC 4/ Hai câu kết: Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường: "Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi" - Câu thơ đã khắc họa hình ảnh người anh hùng trong buổi lên đường tìm cách cứu nước, hình ảnh đó thật đẹp, thật đáng tự hào. Hình ảnh tư thế người ra đi vô cùng lớn lao kỳ vĩ "vượt bể Đông theo cánh gió" để "Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi". Phải là "bể Đông" "cánh gió" mới xứng đáng với sự kì vĩ của ước mơ người anh hùng. Muôn trùng sóng bạc" của quê hương tiễn đưa người anh hùng ra đi vì chí lớn. - Hình tượng thơ: vừa kì vĩ; vừa lãng mạn, thơ mộng: những cánh gió dài và ngàn con sóng bạc cùng cùng lúc như bay lên (nhất tề phi) chắp cánh cho những khát vọng cao đẹp của PBC. Bài thơ khép lại nhưng mở ra hi vọng cho tương lai đất nước. => Bài thơ Xuất dương lưu biệt thổi một luồng sinh khí vào văn chương thời đại, mở ra những trang mới đầy hào khí của văn thơ yêu nước đầu thế kỷ, tiếp nối tinh thần bất khuất của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập của thế kỷ trước. Với nhiệt huyết sôi trào, bài thơ như một lời động viên, khích lệ hướng tới bao thế hệ yêu nước sẽ bước tiếp con đường của nhà yêu nước Phan Bội Châu. ********************************* ÔN TẬP: HẦU TRỜI (TẢN ĐÀ) I. Tìm hiểu chung 1/ Tác giả: - Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), quê: Hà Tây.
- - Là “người của hai thế kỉ” cả về học vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương. Thơ văn của ông là gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. - Các tp chính: Khối tình con I,II, Giấc mộng con I, II, Còn chơi 2/ Bài thơ “Hầu trời”: - Xuất xứ: in trong tập “Còn chơi” (xuất bản 1921) - Hoàn cảnh xã hội - thời đại Bài thơ ra đời vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX. Vào thời điểm đó, khuynh hướng lãng mạn đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, tù hãm, người tri thức không thể chấp nhận nhập cuộc nhưng chống lại nó thì không phải ai cũng đủ dũng khí để làm. Bất bình, bất hòa nhưng bất lực, người ta chỉ có thể mong ước thoát ly, làm thơ để giải sầu. Chẳng thể nào trông đợi ở cõi trần nhem nhuốc bao nhiêu sự, Tản Đà khát khao đi tìm một cõi tri âm để có thể khẳng định tài năng, phẩm giá đích thực của mình – đó chính là cõi tiên - Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tản Đà thường nói đến cảnh Trời. Ông tự coi mình là một trích tiên túc là tiên ở trên trời bị đày xuống hạ giới vì tội ngông - Thể loại: Thất ngôn trường thiên - Nội dung: Qua Hầu Trời, Tản Đà đã mạnh dạn biểu hiện cái tôi cá nhân – một cái tôi ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời II. Đọc – hiểu 1. Cách vào chuyện của tác giả: - Câu thơ mở đầu tiên đã tạo ra một không khí nửa hư nửa thực để gây được ở người đọc một mối nghi vấn nhằm gợi trí tò mò: Đêm qua chẳng biết có hay không, Chuyện có vẻ như mộng mơ, như bịa đặt, chẳng biết có hay không, nhưng dường như lại là thật, thật hoàn toàn bởi tác giả đã bồi đắp ba câu thơ bằng những lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, nhắc đi nhắc lại bốn lần chữ thật với nhịp thơ dồn dập ngăn cách bằng những dấu cảm thán như để củng cố thêm niềm tin - Như vậy, cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên, tạo được sự tò mò, chú ý cuốn hút người đọc về câu chuyện lên tiên của mình. 2. Cảnh đọc thơ: a. Tâm trạng của thi sĩ: Cảnh đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe đã diễn ra khá sinh động pha chút hóm hỉnh thật thú vị qua lời kể của tác giả: - Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng và có phần tự hào, tự đắc vì thơ văn của chính mình: Đọc hết văn vần sang văn xuôi Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
- rồi thi sĩ lại tự khen mình: Văn dài hơi tốt ran cùng mây! Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay. ...Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe Trời cũng bật buồn cười! Tác giả đã tưởng tượng cảnh chính mình đọc thơ cho những đối tượng đặc biệt (là Trời và chư tiên) nghe. Qua đó, tác giả đã vẽ lại chính tâm hồn và tư cách nghệ sĩ của chính mình trước bạn đọc. Nhà thơ chỉ cao hứng như thế khi gặp được người hiểu và thông cảm (là Trời) mà thôi. Ở hạ giới đâu dễ tìm được người tri âm như vậy! - Bằng thủ pháp liệt kê, tác giả đã kể hết những tác phẩm văn chương của mình: Bẩm con không dám man cửa Trời Những áng văn con in cả rồi Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết Đài gương, Lên sáu văn vị đời Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch Đến quyển Lên tám nay là mười Ở đây, Tản Đà rất ý thức về tài năng của mình và ông cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã cái tôi của mình. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc Hoàng và chư tiên. Đây cũng là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Phải chăng, giữa chốn văn chương hạ giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri âm tri kỉ nên phải lên tận cõi tiên mới có thể thỏa nguyện. b. Thái độ của Trời và chư tiên: - Trời khen nhiệt tình và đánh giá rất cao thơ văn thi sĩ: Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít! Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết! Thái độ cảm xúc, tình cảm của Trời là vừa khâm phục, vừa thích thú, như hòa cùng dòng cảm xúc trong văn thơ của tác giả. Những câu thơ đó như đã cực tả niềm tự hào, tự nhận thức của nhà thơ về tài năng sáng tạo nghệ thuật của mình. Nhà thơ đã thấy được cái tài, cái giàu, lắm lối là phẩm hạnh đặc thù của văn thời mình, bên cạnh những phẩm hạnh mang tính chất truyền thống như nhời văn chuốt đẹp, khí văn hùng mạnh, êm,
- tinh,... Tình huống hầu Trời đã làm cho nhà thơ có một cơ hội tuyệt vời để phô bày một cách sảng khoái tài năng của bản thân. Lời khen của Trời hẳn là sự thẩm định có sức thuyết phục nhất, không thể bác bỏ hay nghi ngờ. Đây đúng là một lối tự khẳng định rất ngông của vị trích tiên. - Chư tiên nghe thơ rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ ( thể hiện qua thái độ của ngôi sao Tâm, Cơ, của Hằng Nga, Song Thành, Tiểu Ngọc; và đặc biệt là câu thơ thật hóm hỉnh của Tản Đà khi ông đề cao thơ của mình ): Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong một bài cùng vỗ tay ... Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: “ Anh gánh lên đây bán chợ Trời ! ” Những phản ứng về mặt tâm lí của các nhân vật ( sao Tâm, sao Cơ, Hằng Nga, Song Thành, Tiểu Ngọc ) được đan xen vào nhau một cách linh hoạt làm cho buổi nghe thơ trở nên sôi nổi, hào hứng. Người đọc thơ hay mà tâm thế người nghe cũng cảm thấy hay. Điều này làm cho người đọc, người nghe bài thơ này có cảm tưởng mình đang tham gia thực sự vào câu chuyện. Trong phút đồng tâm cũng thấy đắc ý, sướng lạ lùng. Như vậy, Tản Đà muốn khẳng định giá trị văn chương của mình. Ông muốn văn chương của mình được nhiều người yêu thích, biết đến và trân trọng. c. Cách xưng danh của tác giả: - Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe. “ Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về Địa Cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt ”. Tác giả đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục, tên của hành tinh,... - Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn đằng sau vẻ thật thà, thành khẩn trước đấng trí tôn, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ. Cách nói của nhà thơ không chỉ là cách nói của ý thức cá nhân, của cái ngông mà còn chứa đựng một thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm yêu nước đáng quý. 3. Cảm hứng hiện thực - Tản Đã đã phản ánh rất chân thực và cảm động về cuộc sống của mình cũng như tầng lớp văn nghệ sĩ đương thời: Bẩm Trời cảnh con thực nghèo khó
- Trần gian thước đất cũng không có Tản Đà không chỉ muốn thoát li cuộc đời bằng những cuộc mơ ước lên trăng, lên tiên. Ông vẫn sống và viết cho đến chết giữa cuộc đời nghèo khổ. Những lời giãi bày chân thật với Trời về hoàn cảnh sống của ông dưới trần là hoàn toàn chân thực. Tản Đà vẫn muốn giúp đời, cứu người. - Trong mắt Tản Đà, văn chương lúc này là một nghề kiếm sống mới, có người bán, kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều: Giấy người mực người thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố. Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu. Lo ăn lo mặc hết ngày tháng 4. Nghệ thuật đặc sắc: - Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ một cách thoải mái, tự nhiên và phóng túng. - Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần gũi với đời sống, không cách điệu, ước lệ. - Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên và lôi cuốn người đọc. Lối kể chuyện đầy tính bình dân và giọng khôi hài trong bài thơ hoàn toàn thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau. Lối kể ấy, nụ cười ấy đã làm nên nội dung trữ tình chính, giúp ta hiểu về con người tác giả hơn. - Từ ngữ nôm na, bình dị, như lấy ở đời sống bình thường. - Nhà thơ đã sáng tạo ra một cuộc hầu Trời thật lí thú, ngộ nghĩnh mà như thật với khả năng tưởng tượng phong phú và dàn cảnh hợp lí. Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn của mình để tự khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà Nho đang đi dần tới dấu chấm hết. III. Tổng kết - Nội dung: Qua Hầu Trời, Tản Đà đã mạnh dạn biểu hiện cái tôi cá nhân – một cái tôi ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời - Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh. *********************************
- ÔN TẬP: VỘI VÀNG (XUÂN DIỆU) I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả - Tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu (1916 -1985), quê cha ở Hà Tĩnh, quê mẹ Quy Nhơn. - Từng là thành viên Tự lực văn đoàn. Tham gia cách mạng và hoạt động trong lĩnh vực văn học. - Là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, là nhà thơ của tình yêu mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ nhiệt huyết sôi nổi, đắm say, yêu đời. - Các tp chính: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Các nhà thơ cổ điển VN (1981)... 2. Bài thơ. - Xuất xứ: Rút trong tập “Thơ thơ” xuất bản năm 1938. - Nội dung: Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm của tuổi trẻ, của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt. II. Đọc – hiểu 1/ Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ. a. Bốn câu thơ đầu: khát vọng mãnh liệt và táo bạo của thi nhân: “Tôi muốn tắt nắng đi ... Cho hương đừng bay đi” - Bốn câu đầu viết theo thể ngũ ngôn - phù hợp cho việc thể hiện những cảm xúc vồ vập của Xuân Diệu bởi câu thơ ngắn lại giàu nhịp điệu. - Điệp ngữ “tôi muốn” được nhắc lại hai lần cùng với đó là hai động từ mạnh “tắt, buộc” đã làm nổi bật khao khát của nhà thơ. Đó là khát vọng chiếm đoạt quyền năng của tạo hóa để buộc hương hoa tươi thắm mãi bên đời. Đặc biệt hơn là nhà thơ muốn vũ trụ ngừng quay, thời gian dừng lại để thi nhân tận hưởng được những phút giây tuổi trẻ của đời mình. Bởi nhà thơ sợ “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, sợ “đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn”. Khát vọng ấy của Xuân Diệu thật ngông cuồng nhưng cũng rất hợp lí. b. Bảy câu thơ tiếp theo - Với tâm hồn khát sống, khát yêu, tận hiến, tận hưởng và khát khao giao cảm mãnh liệt, Xuân Diệu đã khám phá ra vẻ đẹp xuân tươi phơi phới, đầy tình tứ ở những cảnh vật thiên nhiên quen thuộc quanh ta: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” - Bảy câu thơ trên là một bưc tranh thiên nhiên mùa xuân được vẽ nên bằng một hồn thơ có “Cặp mắt xanh non biếc rờn”. Cảnh vật đang vào độ thanh tân, diễm lệ. Bức tranh hội tụ đầy đủ hương
- thơm, ánh sáng và màu sắc, âm thanh. Cảnh vật hiện lên đều có đôi, có cặp:” Ong bướm - tuần tháng mật”; “Hoa - đồng nội xanh rì”; ”lá - cành tơ” ; ”yến anh - khúc tình si”; - Điệp ngữ “này đây” được nhắc lại nhiều lần. Xuân Diệu như đang đứng trước bức tranh và liệt kê cho ta thấy vẻ đẹp tươi non, nõn nà của mùa xuân. Thi sĩ như muốn nói với chúng ta rằng: “Sao người ta cứ phải đi tìm chốn Bồng Lai tiên cảnh ở mãi chốn mông lung hão huyền nào? Nó ở ngay giữa cuộc sống quanh ta”. - Bằng cảm nhận của mình, Xuân Diệu thấy ánh sáng buổi sớm mai như phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của người thiếu nữ. Chính ánh sáng ấy đã tưới lên cảnh vật càng làm cho bức tranh thiên nhiên giống như một nguồn nhựa sống chảy dào dạt xung quanh cuộc sống của con người. - Xuân Diệu đã kết lại bức tranh mùa xuân bằng một câu thơ đầy gợi cảm “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Đây là một cách so sánh đầy gợi cảm. Tháng giêng thanh tân, diễm lệ, đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và hương thơm trờ thành “cặp môi gần” rất “ngon, ngọt” của người tình nhân. -Ở đây, trong sự so sánh giữa thiên nhiên và con người, Xuân Diệu đã mang đến cho người đọc một quan niệm nghệ thuật về con người rất mới mẻ. Thơ ca cổ điển thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp. Mọi cái đẹp trong vũ trụ phải đem so sánh với cái đẹp của thiên nhiên. Quan niệm nghệ thuật này là một đóng góp mới mẻ của Xuân Diệu c. Hai câu thơ cuối là tâm trạng của nhân vật trữ tình: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa / Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Trong một câu thơ mà thi sĩ có hai tâm trạng đối nghịch nhau. Dấu chấm ở giữa câu đã phân tách nhà thơ thành hai nửa: nửa sung sướng và nửa vội vàng. Tâm trạng “sung sướng” là tâm trạng: “hạnh phúc, lạc quan, yêu đời, tươi vui đón nhận cuộc sống bằng tình cảm trìu mến, thiết tha gắn bó. Còn “vội vàng” là tâm trạng tiếc nuối bởi nhà thơ sợ tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới. 2/ Quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian - Quan niệm truyền thống cho rằng thời gian là vòng tuần hoàn, cuộc đời con người là vòng luân hồi, từ đó inh ra cách sống bình thản, tĩnh tại. - Xuân Diệu nghĩ khác: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua ... sẽ già”: thời gian tuyến tính, thời gian như một dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn động: cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát. - “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật... tiếc cả đất trời”. Nghệ thuật tương phản, từ láy “bâng khuâng” gợi cảm xúc lưu luyến tuổi trẻ, mùa xuân, cuộc đời, điều đó cho thấy nhà thơ yêu say đắm cuộc sống. - “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi ... tiễn biệt”: trong cảm nhậ của tác giả mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, khắp vũ trụ là lời thở than của vạn vật, là không gian đang tiễn biệt. Mỗi sự vật đang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó, cùng với sự ra đi của thời gian là sự phôi
- pha, phai tàn của từng cá thể. Đó là cái nhìn của một người thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống và luôn băn khoăn về sụ trôi chảy của thời gian, kiếp người. 3/ Lời giục giã sống vội vàng hối hả. - Cụm từ “Ta muốn ôm” lặp lại 5 lần như phơi bày ra hết sự cuồng nhiệt của Xuân Diệu với cuộc sống trần thế: Trước đó nhà thơ xưng “tôi” với ước muốn táo bạo “tắt nắng, buộc gió” nhưng ở đoạn thơ cuối này cái tôi ấy đã hòa thành cái ta chung để tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời. - “Mơn mởn” là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm sự vật, cây cối đang ở độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống - Một loạt câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã tràn đầy nỗi yêu. Thi nhân như muốn ôm hết vào lòng mình “mây đưa và gió lượn”, muốn đắm say với “cánh bướm tình yêu”, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy “một cái hôn nhiều”. Muốn thu hết vào hồn nhựa sống dạt dào “Và non nước, và cây, và cỏ rạng”. Để rồi, chàng như con ong bay đi hút nhụy đời cho đến say “chếnh choáng” hút cho đã cho đầy ánh sáng, “Cho no nê thanh sắc của thời tươi”. - Một loạt động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, nồng nàn hơn “ôm – sự sống” – “riết – mây đưa, gió lượn” – “say – cánh bướm, tình yêu” – “thâu – cái hôn nhiều”, để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồng nhiệt, đắm say thể hiện niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”. Đây chính là đỉnh điểm của sự khao khát cháy bỏng của nhà thơ. - Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt “xanh non”, “biếc rờn” của thi sĩ, mùa xuân hiện lên rõ rệt và sống động như có hình có dáng, có hồn có sắc “Xuân hồng”. Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu nữ trẻ trung, tràn trề nhựa sống khiến thi sĩ hình như không nén nỗi lòng yêu đã đi đến một cử chỉ cũng thật đáng yêu: “Ta muốn cắn vào ngươi!” => Đoạn thơ đã giúp ta hình dung được tâm hồn Xuân Diệu, một cái tôi yêu đời, giàu xúc cảm, một nhân sinh quan tiến bộ về cuộc đời. Với những gì thể hiện ở trên, Xuân Diệu rất xứng đáng với danh hiệu: “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. “Vội vàng” đã mang đến cho người đọc một một cách cảm nhận nồng nàn say đắm về mùa xuân. Qua đó ta thấy được lòng yêu đời và khát vọng sống mãnh liệt của thi nhân. Đúng như nhà phê bình Thế Lữ đã nhận xét “Như một tấm lòng sẵn sàng ân ái, Xuân Diệu dang tay chào đón nhựa sống dạt dào của cuộc đời” III. Tổng kết - Nội dung: Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm của tuổi trẻ, của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt. - Nghệ thuật: Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ *********************************
- ÔN TẬP: TRÀNG GIANG (HUY CẬN) I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả : Cù Huy Cận là nhà thơ lớn, một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với hồn thơ ảo não. Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí 2. Tác phẩm: - Xuất xứ : rút từ tập Lửa thiêng (1939), cảm xúc được gợi lên từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước - Nhan đề: so sánh tên gọi Tràng giang với Trường giang - Nội dung: Qua bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển, Huy Cận đã bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, nỗi sầu nhân thế, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín và thiết tha. II. Đọc – hiểu 1. Nhan đề và lời đề từ: + Gợi lên vẻ đẹp vừa cổ điển lại vừa hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là từ Hán –Việt, mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng trường giang thường gặp trong Đường thi. + Hai âm "ang" đã gợi lên cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. - Câu đề từ thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: đó là cảm xúc"Bâng khuâng », nhớ trước cảnh «trời rộng sông dài". 2/ Khổ 1: Ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. - Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man vô tận. - Trên dòng sông ấy, xuất hiện một con thuyền xuôi mái" lững lờ trôi đi, thuyền và nước như không ăn nhập gì vào với nhau, chúng song song với nhau - Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước vận động ngược chiều nhau, chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại. Có lẽ vì thế mà cảnh đã gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". - Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một cành khô lạc mấy dòng". "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" gợi sự trôi nổi, bập bềnh của cành củi giữa mấy dòng nước rộng lớn mênh mông. Đó chỉ là cành củi hay đó còn là số phận con người dường như cũng đang lạc lối, bơ vơ, ngơ ngác trước những dòng đời. Ta cảm nhận nỗi buồn về sự nhỏ nhoi, cô đơn của một kiếp người trước dòng đời vô định.
- 2/ Khổ 2: Nỗi lòng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” - Hình ảnh những chiếc “cồn” giữa lòng sông – gợi sự cô đơn, trơ trọi. - Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", giữa khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngợp - Đứng giữa không gian ấy, con người thường muốn tìm về với con người. Câu thơ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" mang nhiều sắc thái : + Có thể hiểu là"đâu đó" vang lại âm thanh của tiếng chợ làng xa -> nghe xa xôi, mơ hồ, không rõ rệt + Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. -> Hiểu theo nghĩa nào thì tất cả vẫn chỉ là sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang. - Đến câu thơ thứ ba, không gian được mở ra theo một chiều khác, chiều cao qua hình ảnh của nắng và bầu trời: “Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót.” "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: “lên” - “xuống”. "Sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại vừa diễn tả độ sâu vừa thể hiện độ cao. - Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng",còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Hình ảnh “bến cô liêu” gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn, mà vụ trụ thiên nhiên thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng. 3/ Khổ 3 “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. - Những cánh bèo, hình ảnh từ lâu đã tượng trưng cho những kiếp phù sinh, cho cuộc sống không ý nghĩa. Và cảm giác vô định ấy được Huy Cận nhấn thêm một lần nữa bằng hai chữ “về đâu”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngợp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng cô đơn. - Thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có sự xuất hiện của con người, không có sự giao hoà, nối kết. Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định: "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người – không hề có một chiếc cầu hay chuyến đò ngang. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật chỉ có một thiên nhiên mênh mông Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” 4/ Khổ 4: Ở khổ cuối cùng của bài thơ, Huy Cận đã khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
- Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” - Câu thơ thứ nhất đem đến cho ta cảm giác của một thiên nhiên vừa quen thuộc lại vừa lớn lao, kì vĩ. Những lớp mây dường như được đùn, đẩy từ nơi mà bầu trời tiếp liền cùng mặt nước, cứ chất mãi lên phía trời cao như ngọn núi bạc“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc. H/a thơ gợi nhớ đến câu: Mặt đất mây đùn cửa ải xa (Thu hứng – Đỗ Phủ) - Điểm lên bức tranh bầu trời trên dòng tràng giang hình ảnh một cánh chim, một hình ảnh rất đặc trưng cho buổi chiều tà. “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”. Có thế thấy nét hiện đại của ngòi bút Huy Cận bộc lộ rõ qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm như một lời giải thích: chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. - Hai câu cuối đem lại cho người đọc những xúc cảm thân thương, quen thuộc của quê hương, đất nước, để rồi từ cảnh quê trong hai câu đầu mà nói đến tình quê, đến nỗi nhớ quê nhà. “Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” "Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "lòng quê". Đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước. - Câu thơ này được gợi từ hai câu thơ trong bài Lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu “ Nhật mộ hương quan hà xứ thị (Quê hương khuát bóng hoàng hôn) Yên ba giang thượng sử nhân sầu”(Trên sông khói sống cho buồn lòng ai) Có điều nếu người xưa thấy khói sóng trên sông mới buồn, còn Huy Cận không cần có khói sóng trên sông vẫn nhớ quê nhà da diết -> Tình cảm quê hương sâu nặng, cháy bỏng, tha thiết dường nào. - Đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được. Đó chính là tâm trạng chung lớp nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ, điều đó cho thấy lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận trước cảnh ngộ đất nước mất chủ quyền. III. Tổng kết - Nội dung: Huy Cận đã bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, nỗi sầu nhân thế, niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín và thiết tha. - Nghệ thuật: màu sắc cổ điển thể hiện đậm nét trong một bài thơ mới *********************************
- ÔN TẬP: ĐÂY THÔN VĨ DẠ (HÀN MẶC TỬ) I. Tìm hiểu chung 1.Tác giả - Hàn Mặc Tử (1912-1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ra trong một gia đình công giáo, quê Đồng Hới, Quảng Bình - Từng học ở Huế, làm ở Sở đạc điền Bình Định, làm báo ở Sài Gòn, sau mắc bệnh phong, mất ở trại phong Quy Hòa. - Một nhà thơ thiên tài nhưng yểu mệnh, một kiếp nhân sinh quá ngắn ngủi lại lắm thương đau. Nhưng có lẽ do những bi thương của cuộc đời dành cho số phận mà từ đó những tinh hoa phát tiết làm nên những bài thơ bất hủ mãi mãi với thời gian trong phong trào Thơ mới - Các bút danh: Phong Trần (lúc thi sĩ mới 16 tuổi), Lệ Thanh. Đến năm 1936 đổi thành Hàn Mạc Tử (Chàng trai đứng sau bức rèm lạnh) (Hàn Mặc Tử - Chàng trai bút mực) 2. Tác phẩm - Bài thơ được gợi cảm hứng từ tình cảm của tác giả với người con gái Vĩ Dạ. - Lúc đầu có tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” (1938) in trong tập “Đau thương” II/ Đọc hiểu 1/ Khổ 1: * Thiên nhiên thôn Vĩ - Câu mở đầu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là một câu hỏi tu từ như một lời trách móc nhẹ nhàng, có ý mời mọc tha thiết, chân thành. Đó cũng là lời nhà thơ tự trách, lời ao ước của người đi xa được về lại thôn Vĩ. Câu hỏi tu từ là duyên cớ, khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ biết bao điều về thôn Vĩ. - Một bức tranh thiên nhiên đẹp mở ra trước mắt người đọc. Nắng mới là nắng sớm bắt đầu của một ngày, những hàng cau cao vút vươn mình đón lấy những lia nắng sớm kia, và tất cả tràn ngập ánh nắng và buổi bình minh. Dường như khu vườn ấy được thấm đẫm sương đêm, bây giờ được những tia nắng sáng mai chiếu rọi nên sáng lên, lấp lánh như viên ngọc. *Con người Vĩ Dạ - Trong vườn thôn Vĩ Dạ kia, nhành lá trúc và khuôn mặt chữ điền sao lại có mối liên quan bất ngờ mà đẹp thế: những chiếc lá trúc thanh mảnh, thon thả che ngang gương mặt chữ điền. Mặt chữ điền - Khuôn mặt ấy càng hiện ra thấp thoáng sau lá trúc mơ màng, hư hư thực thực. Mặt chữ điền gợi vẻ đẹp kín đáo, phúc hậu đặc trưng của con người xứ Huế tạo nên cái thần của thôn Vĩ. - Khuôn mặt ấy lại khuất sau“Lá trúc mặt chữ điền” gợi vẻ kín đáo, dịu dàng, e ấp =>Khung cảnh thôn Vĩ được miêu tả rất tươi đẹp, đơn sơ, ấn tượng, giàu sức sống và trữ tình.
- 2/ Khổ 2: - Không gian có sự thay đổi mở rộng ra sông nước mây trời xứ Huế với hình ảnh gió theo lối gió mây đường mây. Cảm thức chia lìa đã khiến những vật tưởng không thể chia lìa cũng đôi đường đôi ngả, gió mây hững hờ, cảm giác chia lìa, không gian trống vắng, lạnh lẽo. - Dòng sông Hương hiện ra mới buồn làm sao dòng nước buồn thiu” với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt, ảm đạm như màu khói. Với một tâm hồn mãnh liệt như Hàn Mặc Tử thì dòng sông trôi lững lờ của xứ Huế chỉ là dòng sông buồn thiu gợi cảm giác buồn lặng, quạnh quẽ. Hoa bắp cũng lay nhè nhẹ trong một nỗi buồn xa vắng. - Hai câu sau, thời gian chuyển về đêm, cảnh vật thiên nhiên tràn ngập ánh sáng, một ánh trăng vàng sáng loáng chiếu xuống dòng sông, làm cho cả dòng sông và những bãi bồi lung linh, huyền ảo. Cảnh thơ mộng quá! Dòng nước buồn thiu đã hoá thành dòng sông trăng lung linh, con thuyền khách đã trở thành thuyền trăng. Tác giả đã gửi gắm một tình yêu khát khao, nỗi ngóng trông, mong nhớ vào con thuyền trăng, vào cả dòng sông trăng. Tất cả đều trở nên mông lung mờ ảo, không còn là cõi thực nữa mà là cõi mộng, cõi mơ - Trăng vốn là người ạn tri âm tri kỉ của nhà thơ. “Có ... nay?”: Câu hỏi tu từ cho thấy tâm trạng phấp phỏng, lo âu, khắc khoải trăn trở, thực và ảo hòa quyện, đan xen. Chữ “kịp” gợi nỗi xót thương sâu sắc ở người đọc. Liệu rồi con thuyền kia có chở trăng về kịp không, liệu có ai hiểu được nỗi lòng của nhà thơ không? Hình ảnh thơ gợi tâm trạng hoài nghi, mong ngóng. 3/ Khổ 3: - Hình như giữa những giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ: “Mơ - khách đường xa”. Điệp ngữ khách đường xa nhấn mạnh khoảng cách xa xôi và cả sự mong đợi tha thiết - Câu thơ đã tả thực cảnh Huế - kinh thành sương khói. Trong màn sương khói đó con người như nhoà đi và có thể tình người cũng nhoà đi. Cô gái Huế kín đáo quá, ẩn hiện trong sương khói, trở nên xa vời quá, liệu tình cảm của họ có đậm đà chăng? Liêu cô gái có biết cho tình cảm của tác giả là đậm đà hay không? Dù hoài nghi, khắc khoải, người đọc vẫn cảm nhận được niềm khao khát được sống, được giao cảm, được yêu thương, chia sẻ đau buồn của tâm hồn Hàn Mặc Tử. III. Tổng kết - Nội dung: Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một người thiết tha yêu đời, yêu người - Nghệ thuật: Sử dụng nhiều hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng *********************************

