Đề cương ôn tập Covid môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020 - Lưu Trung Đông

doc 20 trang NganTTT 15/07/2025 2330
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập Covid môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020 - Lưu Trung Đông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_covid_mon_ngu_van_8_nam_hoc_2019_2020_luu_tr.doc

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Covid môn Ngữ văn 8 - Năm học 2019-2020 - Lưu Trung Đông

  1. NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 8 TRONG THỜI GIAN NGHỈ PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19 NĂM HỌC 2019-2020 I. Phần văn: Câu 1: Bảng thống kê các văn bản đã học: T Tác Tác giả Thể Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật T phẩ loại m 1 Tôi Thanh Truyệ Tuổi học trò sâu lắng đáng -Văn tự sự kết hợp hài đi Tịnh n yêu cần cảm ơn công lao hòa chặt chẽ với miêu học (1911- ngắn sinh thành của cha mẹ. tả và biểu cảm, làm 1988) hồi kí cho truyện ngắn đậm chất trữ tình -Tài sử dụng ngôn ngữ ngắn của nhà văn với những hồi ức sâu lắng đáng yêu. 2 Tron Nguyên Tiểu Là bài ca chân tình cảm Phương thức tự sự và g Hồng thuyế động về tình mẫu tử, đó là biểu cảm kết hợp với lòng (1918- t tự những cay đáng tủi nhục, lời văn chân tình giàu mẹ 1982) truyệ cùng tình yêu thương cháy cảm xúc, với những n bỏng của nhà văn đối với thủ pháp so sánh độc người mẹ. đáo. 3 Tức Ngô Tất Tiểu Tác phẩm đã vật trần bộ Khắc họa nhân vật rõ nước Tố (1893- thuyế mặt tàn ác bất nhân của xã nét, ngôn ngữ kể vớ 1954) t hội thực dân phong kiến, chuyện miêu tả đối bờ Vẻ đẹp của một tâm hồn thoại đặc sắc. đầy yêu thương, dịu dàng, chịu đựng, ngang tàn, bất khuất của người phụ nữ trước cách mạng tháng 8 tư thế là người rất đẹp của chị dậu là ko chịu sống quỳ. 4 Lão Nam Cao Truyệ Truyện ngắn đã thể hiện Tạo dựng tình huống hạc (1917- n một cách chân thực và cảm truyện bất ngờ, ngôn 1951) ngắn động số phận đau thương ngữ phù hợp với từng của người nông dân trong nhân vật, con chó xã hội cũ và phẩm chất cao vàng mang màu sắc quý tiềm tàng của họ. Đồng triết lí, xây dựng nhân thời truyện ngắn còn cho vật bằng miêu tả ngoại thấy tấm lòng yêu thương hình để bộc lộ nội trân trọng đối với người tâm, tâm lí của nhân nông dân. vật. 1
  2. 5 Cô An-đéc- Truyệ Niềm thương cảm sâu sắc -Cách kể chuyện hấp bé xen n cổ đối với những con người dẫn đan xen giữa bán (1805- tích bất hạnh, niềm tin của con mộng tưởng và thực diêm 1875) hiện người và tấm lòng nhân ái tế, sử dụng hình ảnh đại của nhà văn. tương phản đối lập đặc sắc. -Sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố kể, tả, biểu cảm. -Xây dựng tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn phù hợp với tâm lí trẻ thơ. 6 Đán Xéc-van- Tiểu Sử dụng tiếng cười khôi hài Sử dụng phép tương h téc (1547- thuyế để diễu cợt cái hoang phản trong xây dựng nhau 1616) t tưởng, tầm thường đề cao nhân vật. với thực tế và sự cao thượng. cối xay gió 7 Chiế O hen-ri Truyệ Ca ngợi tình bạn, tình Xây dựng cốt truyện c lá (1862- n người đằm thắm, tha thiết, đơn giản, giàu kịch cuối 1910) ngắn thủy chung, trong sáng tính, kết cấu truyện cùng nghệ thuật chân chính phục tương phản, tinh tế hai vụ con người, hãy yêu lần đảo ngược kết thúc thương trân trọng con truyện bất ngờ, ngôn người nhất là những con ngữ kể truyện giản dị người nghèo khổ. nhẹ nhàng và sâu sắc. 8 Hai Ai-ma- Truyệ Vẻ đẹp thân thuộc cao quý -Nhân vật kể chuyện cây tốp n của hai cây phong gắn liền kết hợp với hai mạch phon (1928- ngắn với tình thương tha thiết kể, gắn với hai đại từ g 2008) của tác giả. nhân xưng là tôi và chúng tôi. -Phương thức biểu đạt kết hợp với miêu tả, nhân hóa cao độ. 9 Ôn Nguyễn Văn Nạn hút thuốc lá lây lan, Kết hợp lập luận chặt dịch, Khắc bản gây tổn thất to lớn cho sức chẽ, dẫn chướng sinh thuố Viện nhật khỏe của con người, cho động, với thuyết minh c lá dụng cuộc sống của gia đình và cụ thể, phân tích trên xã hội nên phải quyết tâm cơ sở khoa học. Sử đẻ chóng lại nạn dịch này. dụng thủ pháp so sánh để thuyết minh một 2
  3. cách thuyết phục một vấn đề y học có liên quan đến xã hội. 10 Bài Thái An Văn Văn bản đã nêu lên vấn đề Tác giả đã đưa ra các toán bản thời sự của nhân loại, dân con số buộc người đọc dân nhật số và tương lai của dân tộc phải tinh tưởng và suy số dụng nhân loại. ngẫm về sự gia tăng dân số đang lo ngại của thế giới, nhất là những nước chậm phát triển. 11 Thôn Văn Tác hại của bao bì ni lông, Bố cục chặt chẽ lô g tin bản lợi ích của việc hạn chế sử rích, lối lí lẽ ngắn gọn, về nhật dụng bao bì ni lông để bảo giải thích đơn giản, ngày dụng vệ môi trường sống. kết hợp phương pháp trái liệt kê phân tích. đất năm 2000 12 Vào Phan Bội Thơ Vào nhà ngục ở Quảng Giọng điều hào hùng nhà Châu thất Đông đã thể hiện phong có sức lôi cuốn mạnh ngục (1867- ngôn thái ung dung, đường mẽ. Quả 1940) bát cú hoàng và khí phách kiên ng đườn cường, bất khuất vượt lên Đôn g luật trên cảnh tù ngục khóc liệt g của nhà chiến sĩ yêu nước cảm Phan Bội Châu. tác 13 Đập Phan Thể Hình tượng đẹp đẽ ngang Hình ảnh thơ mạnh đá ở Châu thơ tàn của người anh hùng cứu mẽ khoáng đạt, giọng Côn Trinh thất nước. Dù gian nan thử thất thơ hào hùng, sử dụng Lôn (1872- ngôn nhưng ko sờn lòng đổi chí, hình ảnh đối lập. 1926) bát cú khí phách hiên ngang, kiên đườn cường, ý chí, nghị lực lớn g luật lao của người chiến sĩ cách mạng. 14 Muố Tản Đà Thất Bài thơ muốn làm thằng Sức hấp dẫn của bài n (1889- ngôn cuội của Tản Đà là tâm sự thơ là ở hồn thơ lãng làm 1939) bát cú của một con người bất hòa mạn pha chút ngông thằn đườn sâu sắc với thực tại tầm nghênh đáng yêu và ở g g luật thường, xấu xa, muốn thoát những tìm tòi đổi mới 3
  4. cuội ly bằng mộng tưởng lên thể thơ thất ngôn bát cung trăng để bầu bạn với cú Đường luật cổ điển. chị Hằng. 15 Hai Trần Song Á Nam Trần Tuấn Khải đã Sự lựa chọn thể thơ chữ Tuấn thất mượn một câu chuyện lịch thích hợp và giọng nước Khải lục sử có sức gợi cảm lớn để điệu trữ tình thống nhà (1895- bát bộc lộ cảm xúc của mình thiết của tác giả đã tạo 1983) và khích lệ lòng yêu nước, nên giá trị đoạn thơ ý chí cứu nước của đồng trích. bào, tình cảm sâu đậm, mãnh liệt đối với nước nhà. Câu 2:Nêu điểm giống nhau và khác nhau của các tác phẩm truyện kí Việt Nam đã học năm 30-45? Giống nhau: -Thể loại:đều là văn bản tự sự, là truyện kí hiện đại -Thời gian ra đời trước CMT8 năm: 1930-1945 - Đều lấy đề tài về cuộc sống và con người của xã hội thực dụng phong kiến, miêu tả số phận cực khổ của những người nghèo khổ bị vùi dập trong xã hội ấy. -Giá trị tư tưởng: Đều chan chứa tinh thần nhân đạo cao cả (yêu thương, trân trọng những tình cảm, phẩm chất đẹp đẽ của con người, tố cáo những gì tàn ác xấu xa) -Giá trị nghệ thuật: bút pháp hiện thực, lối viết chân thực, gần gũi với đời sống, ngôn ngữ giản dị, kể chuyện và miêu tả cụ thể sinh động. - Khác nhau: Mỗi tác phẩm có nhừng điểm khác về các mặt như: thể loại, phương thức biểu đạt, nội dung chủ yếu và đặc sắc nghệ thuật. II.Phần tiếng việt: Tên từ vựng, TT Khái niệm Dấu hiệu, hình thức, chức năng Ví dụ câu, dấu câu 1 Câu Câu ghép là *Có hai cách nối các vế câu: +Mây đen kéo kính ghép những câu -Dùng những từ có tác dụng bầu trời, gió giật do hai hoặc nối.Cụ thể: mạnh từng cơn. nhiều cụm +Nối bằng một quan hệ từ; +Nắng ấm, sân rộng C-V không +Nối bằng một cặp quan hệ từ; và sạch. bao chứa +Nối bằng một cặp phó từ, đại từ +Giá trời không mưa nhau tạo hay chỉ từ thường đi đôi với nhau thì chúng tôi sẽ đi thành. Mỗi (cặp từ hô ứng). chơi. cụm C-V này -Không dùng từ nối: Trong +Vì mẹ ốm nên bạn được gọi là trường hợp này, giữa các vế câu Nghĩa phải nghĩ học. một vế câu cần có dấu phẩy,dấu chấm phẩy 4
  5. hoặc dấu hai chấm. *Các vế của câu ghép có quan hệ ý nghĩa với nhau khá chặt chẽ. Những quan hệ thường gặp là: qh nguyên nhân, qh điều kiện(giả thiết), qh tương phản, qh tăng tiến, qh lựa chọn, qh bổ sung, qh tiếp nối, qh đồng thời, qh giải thích. *Mối quan hệ thường được đánh dấu bằng cặp quan hệ từ, những quan hệ từ hoặc cặp từ hô ứng nhất định. Tuy nhiên, để nhận biết chính xác quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, trong nhiều trường hợp ta phải đựa vào văn cảnh hoặc hoàn cảnh giao tiếp. 2 Cấp độ Nghĩa của một từ ngữ có thể rộng + Xăng, dầu hoả, ga, khái hơn(khái quát hơn) hoặc hẹp hơn than, củi được bao quát của (ít khái quát hơn)nghĩa của từ hàm trong phạm vi nghĩa từ khác: nghĩa của từ "nhiên ngữ -Một từ ngữ được coi là có nghĩa liệu". rộng khi phạm vi nghĩa của từ + "Lúa"có nghĩa rộng ngữ đó bao hàm phạm vi nghĩa hơn các từ ngữ: lúa của một số từ ngữ khác. nếp, lúa tẻ, lúa tám -Một từ ngữ được coi là có nghĩa thơm hẹp khi phạm vi nghĩa của từ đó + Lúa lại có nghĩa được bao hàm trong phạm vi hẹp hơn với từ "ngũ nghĩa của một từ ngữ khác. cốc" -Một từ ngữ có nghĩa rộng đối với những từ ngữ này, đồng thời có nghĩa hẹp đối với từ ngữ khác. 3 Trường Trường từ + Các từ: thầy giáo, từ vựng vựng là tập công nhân nông dân, hợp của thầy thuốc, kỹ sư những từ có đều có một nét nghĩa ít nhất một chung là: người nói nét chung về chung xét về nghề nghĩa nghiệp. 4 Từ *Từ tượng Từ tượng hình, từ tượng thanh gợi +Từ tượng thanh: tượng hình là từ gợi được hình ảnh, âm thanh cụ thể, soàn soạt, bịch, đánh hình, từ tả hình ảnh, sinh động, có giá trị biểu cảm cao; bốp, nham nhảm. tượng dáng vẻ, thường được dùng trong văn miêu 5
  6. thanh trạng thái tả và văn tự sự. của sự vật. + Từ tượng hình: rón *Từ tượng rén, lực điền, chỏng thanh là từ queo. mô phỏng âm thanh của tự nhiên của con người. 5 Từ ngữ *Khác với từ *Việc sử dụng từ ngữ địa phương *Ngái_xa,chộ_thấy địa ngữ toàn và biệt ngữ xã hội phải phù hợp Mẹ_mạ,rào_sông, phương, dân, từ ngữ với tình huống giao tiếp. Trong biệt ngữ địa phương thơ văn tác giả có thể sử dụng *Mợ_mẹ,trứng_điểm xã hội là từ ngữ chỉ một số từ ngữ thuộc hai lớp từ 0 sử dụng ở này để tô đậm màu sắc địa một (hoặc phương, màu sắc tầng lớp xã hội một số) địa của ngôn ngữ, tính cách nhân vật. phương nhất định. * Khác với *Muốn tránh lạm dụng từ ngữ địa từ ngữ toàn phương và biệt ngữ xã hội, cần dân,biệt ngữ tìm hiểu các từ ngữ toàn dân có xã hội chỉ nghĩa tương ứng để sử dụng khi được dùng cần thiết. trong một tầng lớp xã hội nhất định 6 Trợ từ, *Trợ từ là *Ví dụ trợ từ: những, thán từ những từ có, chính, đích, chuyên đi ngay kèm với một từ ngữ trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ đánh giá sự vật, sự *Thán từ thường đứng ở đầu câu, việc được có khi được tách ra thành một câu nói đến ở từ đặc biệt. ngữ đó. *Thán từ gồm hai loại chính: A, ái, ơ, ôi, ô hay, *Thán từ là +Thán từ bộc lộ tình cảm cảm than ơi, trời ơi những từ xúc: Này, ơi, vâng, dạ, ừ dùng để bộc lộ tình cảm, +Thán từ gọi đáp: 6
  7. cảm xúc của người nói hoặc dùng để gọi đáp. 7 Tình Tình thái từ *Tình thái từ gồm một số loại thái từ là những từ đáng chú ý như sau: được thêm -Tình thái từ nghi vấn: À, ư, hả, chứ, vào câu để -Tình thái từ cầu khiến: chăng tạo câu nghi -Tình thái từ cảm thán: Đi, nào, với vấn, cầu -Tình thái từ biểu thị sắc thái tình Thay, sao khiến, cảm cảm: Ạ, nhé, cơ, mà thán và để *Khi nói khi viết cần chú ý sử biệu thị sắc dụng tình thái từ phù hợp với thái tình cảm hoàn cảnh giao tiếp (quan hệ tuổi của người tác, thứ bậc xã hội, tình cảm ) nói. 8 Nói quá Nói quá là +Bọn giặc hoảng hồn biện pháp tu vắt chân lên cổ mà từ phóng đại chạy. mức độ, quy +Cô Nam tính tình mô, tính chất xởi lởi, ruột để ngoài của sự vật, da. hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng,tăng sức biểu cảm. 9 Nói Nói giảm nói + "Chị ấy xấu" có thể giảm, tránh là một thay bằng "Chị ấy nói biện pháp tu không đẹp lắm". tránh từ dùng cách + diễn đạt tế "Anh ấy hát dở" có nhị, uyển thể thay bằng "Anh chuyển, ấy hát chưa hay" tránh gây +"Ông ấy sắp chết" cảm giá đau có thể thay bằng" buồn, ghê sợ, Ông ấy chỉ nay mai nặng nề; thôi" tránh thô tục, thiếu lịch sự. 10 Dấu *Dấu ngoặc đơn dùng để đánh *Ví dụ: Lí Bạch(701- 7
  8. ngoặc dấu phần chú thích (giải thích, 762) đơn, thuyết minh, bổ sung thêm) dấu hai *Dấu hai chấm dùng để: +Vì chính lòng tôi chấm -Đánh dấu (báo trước) phần giải đang có sự thay đổi: thích, thuyết minh cho một phần hôm nay tôi đi học. trước đó. +Người xưa có câu: “trúc dẫu cháy, đốt -Đánh dấu (báo trước) lời dẫn ngay vẫn thẳng” trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang). 11 Dấu Dấu ngoặc kép dùng để: ngoặc -Đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn -“A, lão già tệ lắm” kép trực tiếp; -Cầu Long Biên như -Đánh dấu từ ngử được hiểu theo một “giải lụa”. nghĩa đặc biệt hay có hàm ý mỉa -Tác phẩm “Tắt Đèn” mai; của “Ngô Tất Tố” -Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san, được dẫn. III. Phần tập làm văn: 1. Lý thuyết: Câu 1: Nêu tính thống nhất về chủ đề của văn bản? -Chủ đề là đối tượng và vấn đè chinh mà văn bản muốn biểu đạt. -Văn bản có tính thống nhất về chủ đề khi chỉ biểu đạt chủ đề đã xác định, không rời xa hay lạc sang chủ đề khác. Câu 2: Bố cục của văn bản? -Bố cục của văn bản là sự tổ chức các đoạn văn để thể hiện chủ đề. Văn bản thường cá bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. + Mở bài: giới thiệu nội dung sẽ triển khai, dẫn dắt người đọc nhập cuộc; + Thân bài: triển khai nội dung đã giới thiệu ở mở bài, giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra; + Kết bài: khẳng định và nâng cao vấn đề đã trình bày ở phần nội dung. Câu 3: Thế nào là liên kết các đoạn văn trong văn bản? -Khi chuyển từ đoạn văn này sang đoạn văn khác cần sử dụng các phương tiện liên kết để thể hiện quan hệ ý nhgĩa của chúng Câu 4:Nêu khái niệm về đoạn văn trong văn bản, từ ngữ chủ đề và câu chủ đề? -Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. -Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. 8
  9. -Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Câu 5:Tóm tắt văn bản tự sự và các bước tóm tắt? -Tóm tắt văn bản tự sự là dùng lời văn của mình trình bày một cách ngắn ngọn nội dung chính (bao gồm sự việc tiêu biểu và nhân vật quan trọng) của văn bản đó. -Các bước tóm tắt văn bản tự sự: B1: Đọc kĩ văn bản gốc, chọn các sự việc cơ bản xảy ra với nhân vật chính và diễn biến của các sự việc đó. B2:Tóm tắt rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (một vài chỗ có thể kết hợp dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong văn bản gốc). Câu 6:Văn bản tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm. -Trong văn bản tự sự rất ít khi tác giả chỉ thuần kể người, kể việc(kể chuyện) mà khi kể thường đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm. -Các yếu tố miêu tả biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động và sâu sắc hơn. Câu 7:Thế nào là văn thuyết minh? -Văn thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,...của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích. Câu 8:Các phương pháp thuyết minh thường gặp: Để bài văn thuyết minh có súc thuyết phục, dễ hiểu,rõ ràng, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nên định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại,... Câu 9: Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh? -Đề văn thuyết minh nêu các đối tượng để người làm bài trình bày tri thức về chúng. -Để làm bài văn thuyết minh cần tìm hiểu kĩ đối tượng thuyết minh, xác định rõ phạm vi tri thức về đối tượng đó, sử dụng phương pháp thuyết minh thich hợp, ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu. -Bố cục bài văn thuyết minh gồm có ba phần; MB:gới thiệu đối tượng thuyết minh. TB:trình bày cấu tạo, các đặc điểm, lợi ích,... của đối tượng. KB:bày tỏ thái độ đối với đối tượng. Câu 10: Cách thuyết minh về một thể loại văn học? Trước hết phải quan sáy nhận xét sau đó khái quát thành những đặc điểm. Khi nêu các đặc điểm cần lựa chon các đặc điểm tiêu biểu quan trọng và cần có các ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ các đặc điểm ấy. 2.Bài tập: Câu 1: Viết đoạn văn giói thiệu về các tác giả Nguyên Hồng, Nam Cao, Ngô Tất Tố ? Nguyên Hồng: Nhà văn Nguyên Hồng sinh năm 1918 mất năm 1982. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Nguyên Hồng sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng. Nguyên Hồng từng có một tuổi thơ bất hạnh. Hồi kí Những ngày thơ ấu được coi là những dòng hồi ức sinh động, chân thực đầy cay đắng về tuổi thơ không êm đềm của nhà văn.Ông viết nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu 9
  10. thuyết, kí, thơ. Các tác phẩm chính của Nguyên Hồng: Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938); Những ngày thơ ấu (hồi kí, 1938); Trời xanh (tập thơ, 1960); Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976); Núi rừng Yên Thế (bộ tiểu thuyết lịch sử nhiều tập chưa viết xong); Bước đường viết văn (hồi kí, 1970).Trong những tác phẩm của Nguyên Hồng, hình ảnh người phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ được nhà văn dành nhiều niềm yêu thương, đồng cảm. Với những đóng góp của Nguyên Hồng dành cho nền văn học dân tộc, ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Nam Cao: Nam Cao (1915-1951) là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỉ 20. Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này. Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình. “Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán cho' đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ. Ngô Tất Tố: Nhà vàn Ngô Tất Tố sinh năm 1893 mất năm 1954 quê ở làng Lộc Há (nay thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội), ông không đến ngay với nghề viết như nhiều nhà văn khác. Trước năm 1945, Ngô Tất Tố từng làm nhiều nghề như dạy học, bốc thuốc, rồi sau đó mới làm báo, viết văn. Trong Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Uỷ ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946 ông gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp; từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở Thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, Tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc Trung ương... và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (trong Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I - 1948). Tác phẩm của Ngô Tất Tố sau này được tập hợp trong tuyển tập: Ngô Tất Tố và tác phẩm, gồm 2 tập, do Nhà Xuất bản Văn học ấn hành, 1971 - 1976. Nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949 -1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996). Câu 2:Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật chị Dậu, Lão Hạc, cậu bé Hồng, Cô Bé Bán Diêm. Chị Dậu: Đảm đang, tháo vát, chung thủy, giàu lòng hi sinh, đó là những đặc điểm có tính chất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trước đây. Cái mới của chị Dậu là sức chiến đấu mạnh khỏe, lạc quan và tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù. Nhiều người đàn bà khác rơi vào tình cảm quẫn bách như chị Dậu, có khi đành chịu buông tay khuất phục, nhắm mắt cho cuộc đời trôi theo số mệnh. Nhưng người đàn bà nông dân 10
  11. này cứ thấy lăn xả vào bóng tối như mực, kiếm cách phá tung ra đế tìm đường sống. Và chống trả một cách mộc mạc, hồn nhiên, không cần lí lẽ, dường như hành động quyết liệt đó, ngôn ngữ nhân vật nhuần nhị đó là sản phẩm tất yếu của một cuộc đời lương thiện vốn đã cơ cực lại còn bị giày xéo tàn nhẫn: “ - Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!” “ - Ô! Nhà ông này mới hay chứ! Có buông ra không thì tôi kêu lên bây giờ!”.. “ - Cháu cũng biết rằng đàn bà mà hành hung như thế là hư thân lắm, nhưng... cụ tính nhà cháu đau ốm như thế, mà cả hai đứa cứ xông vào đánh thì phỏng cả còn gì là người! Vì thế cháu phải liều với chúng nó”. Thái độ chống trả của chị Dậu (“Cháu phải liều với chúng nó”) là một hành động đấu tranh tự phát đơn độc, chưa có ý thức, chưa có phương hướng. Nhưng trong văn học công khai đương thời, nhân vật này vẫn là một cái cột mốc cao nhất, một hình tượng phụ nữ mạnh khỏe và tươi sáng nhất. Lão Hạc: Lão Hạc là một người nông nghèo khó nhưng giàu lòng yêu thương, sống nhân hậu, tình nghĩa, và có lòng tự trọng, không muốn khi mình chết phải phiền tới hàng xóm. Sau khi bán cậu Vàng, người bạn duy nhất của ông khi về già, ông thấy rất hối hận.vì là ng` có lòng tự trọng, không muốn khi mình chết phải phiền tới hàng xóm nên ông đã tự kết liểu mình bằng chính cái chết mà chó hay nhận được đó là bả chó. Không ai hiểu vì sao lão chết ,chỉ có binh Tư và ông Giáo hiểu. Qua cái chết của Lão ta cũng có thể thấy dc một ý nghĩa rất sâu sắc. Đó là vì lòng yêu thương con trai mình, dành dụm tiền cho con, vì muốn tạ tội với cậu vàng.Cái chết của lão còn mang một hàm ý là muốn tố cáo xã cũ nửa phong kiến và qua đó chứng minh dc rằng lão là một con ng` nghèo khó nhưng giàu lòng yêu thương, sống nhân hậu, tình nghĩa, và có lòng tự trọng. Cậu Bé Hồng: Bé Hồng là một cậu bé có một tuổi thơ bất hạnh nhưng cậu có một tâm hồn vô cùng trong sáng và dạt dào tình yêu thương. Bố cậu ăn chơi , nghiện ngập mất sớm, mẹ cậu phải tha hương cầu thực .Còn cậu , cậu phải sống với bà cô cay nhiệt ,ghẻ lạnh,luôn gieo rắc vào đầu óc non nớt của đứa chấu những hình ảnh xấu về người mẹ để cậu ruồng rẫy mẹ của mình.Nhưng Hồng đã ruồng bỏ những lời nói thâm độc của bà cô, cậu đặt 1 niềm tin mãnh liệt vào người mẹ của mình , cậu căm hận những thành kiến tàn ác đã khiến cho mẹ con Hồng phải xa lìa .Hơn ai hết , cậu luôn muốn sống trong tình yêu thương , được mẹ vỗ về, được làm nũng được chiều chuộng,....như bao đứa trẻ khác .Gio đây mẹ là niềm hạnh phúc, là khát khao duy nhất của cậu.Và rồi , vào hôm giỗ đầu thầy cậu . Mẹ đã về. Hồng sung sướng vô bờ. Dạt dào , miên man khi được nằm trong lòng mẹ, được mẹ âu yếm vỗ về.tất acr những khổ đau , những lời nói của bà cô đều bị lãng quên- trôi đi nhẹ như một đám mây.Trong lòng cậu lúc này chỉ còn niềm hạnh phúc .Qua đây, ta thấy được Hồng là một chú bé hiếu thảo , có tâm hồn trong sáng và hơn nữa cậu có một tình yêu thương cháy bỏng dành cho người mẹ bất hạnh của mình-tình mẫu tử thiêng liêng......... Cô Bé Bán Diêm Em bé bán diêm thật tội nghiệp. Người đời đối xử tàn nhẫn với em biết mấy. Họ chẳng thèm để ý đến những lời chào hàng tha thiết của em thậm chí đến lúc chết, cái thi thể lạnh 11
  12. cóng của em cũng chỉ nhận được những ánh nhìn lạnh nhạt. Trong cái xã hội thiếu tình thương ấy, nhà văn An-đéc-xen đã tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với em bé bất hạnh. Chính tình yêu ấy đã khiến nhà văn miêu tả thi thể em với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười, đồng thời tưởng tượng ra cảnh huy hoàng của hai bà cháu lúc về trời. Song nhìn chung cả câu chuyện nói chung và đoạn kết của truyện nói riêng là một cảnh tượng thương tâm thực sự. Nó gợi lên ở chúng ta bao nỗi xót xa cho những kiếp người nghèo khổ. Câu 3: Kể một việc làm của em khiến cho cha mẹ vui lòng. Bài làm Hai năm trước.“Happy birthday to you! Happy birthday to you!... ” Ôi! Một bài hát thật hay. Đó là ngày sinh nhật của tôi. Hôm đó, mọi người đều vui, riêng chỉ có em tôi – Thu thì chỉ cố làm vẻ mặt tươi cười. Thực ra, từ khi em tôi ra đời, tôi đã đối xử với em rất lạnh lùng vì bố mẹ quan tâm em nhiều hơn tôi vì em còn nhỏ. Một đứa bé dễ thương, gương mặt hồng hào với mái tóc hơi nâu ngang vai nhưng trong mắt tôi, nó là người cướp đi niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi rất nhiều rất nhiều. Lúc đó, tôi cảm thấy tôi không phải là con của họ vì họ lúc nào cũng quan tâm em và dường như quên mất sự hiện diện của tôi. Có lần, em tôi bị sốt bang và chỉ vài ngày sau đã lây bệnh sang tôi. Tối thấy bố mẹ chăm sóc em cả ngày nhưng còn tôi thì tự mình lo lấy. Lúc đó, tôi không hiểu là em bệnh rất nặng nên bố mẹ mới làm vậy. Mặc dù vậy, em vẫn tươi cười với tôi nó muốn tôi không lo lắng cho bệnh tình của nó. Em thường qua phòng thăm tôi nhưng tôi làm lơ, xem như chẳng có chuyện gì xảy ra. Bỗng một tiếng gọi “Ly, thổi nến đi con ” thì những hình ảnh đó tự dưng biến mất. Hôm đó, mọi người tay cầm món quà, tiếng nói chuyện vui vẻ bao trùm cả nhà. Cả ngày hôm đó, tôi chỉ lo ăn tiệc mà quên nghĩ đến em. Mọi người đều đến nói lời chúc mừng sinh nhật tôi với lời nói rất chân thành. Riêng em tôi thì không. Em luôn ở trong phòng và chỉ ra ngoài khi bố mẹ gọi. Tôi không hiểu em lại làm thế trong khi bên ngoài rất vui và nhộn nhịp, kèm theo em làm người rất thích nơi náo nhiệt. Khi bữa tiệc kết thúc – mọi người đều đã ra về, tôi và bố mẹ dọn dẹp nhà và thấy em bước ra giúp chúng tôi. Tôi nghĩ em làm thế vì muốn lấy lòng bố mẹ nên không quan tâm tới. Khi mà bố mẹ đã ngũ, em qua phòng tôi và nói “Em tặng chị hai quà sinh nhật ” tôi im lặng, em nói thêm “ tự tay em vẽ đó” rồi nở nụ cười thật tươi chào tôi. Tôi nhận nhưng không xem. Sáng hôm sau, mẹ gặp tôi và bảo “Con có nhiều quà lắm phải không, con thấy quà của em như thế nào?”. Tôi im lặng. “Con có biết không, em đã vẽ bức tranh cách đây 1 tháng rồi đấy. Em đã nắn nót từng chi tiết chỉ mong con vui nhưng con làm mẹ thất vọng quá”. Mẹ nói vậy chắc đã biết tôi không xem món quà của em chắc là buồn lắm. Nghe mẹ nói thế, tôi thử lấy ra xem và thật bất ngờ, em đã vẽ cảnh một gia đình vui vẻ nói cười. Có hai người đang ôm ấp và nghịch nhau tôi đoán là em và tôi; xa xa có hai người lớn hơn nhìn cảnh tượng trên mỉm cười. Tuy em vẽ không giống nhưng tôi nghĩ tôi hiểu ý em. Chắc em muốn tôi và em vui vẻ, nô đùa với nhau còn bố mẹ thấy thế mà vui lây mong muốn một gia đình hạnh phúc. Trong giây phút đó, tim tôi như thắt lại và nước mắt cứ trào ra. Tôi tự nhủ lòng là sẽ không đối xử lạnh nhạt với em, sẽ nhường nhịn em. Ngày hôm đó, tiếng cười tràn ngập nhà tôi tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm và không còn rây rức như trước nữa. Tôi thật 12
  13. là một người chị không tốt. Tôi cảm tháy mình có lỗi với em và bố mẹ rất nhiều. Tuy bố mẹ không nói nhưng tôi biết trong lòng họ rất vui vì tôi đã trở lại vị trí của một người chị đúng nghĩa – một người con thấu hiểu bố mẹ. Câu 4: Kể một câu chuyện về một con vật nuôi có tình có nghĩa. Bài làm Lúc em lên lớp Sáu, ông ngoại cho em một con chó nhỏ khoảng vài tháng tuổi, lông màu nâu sẫm có vằn đen như lông hổ. Em đặt tên cho nó là Lucky. Lucky là giống chó Phú Quốc rất quý. Lúc trưởng thành, nó có thân hình cân đối: ngực nở, bụng thon, bốn chân cao và mảnh. Chiếc đầu nhỏ, đôi tai nhọn dựng đứng, cặp mắt tinh nhanh. Chiếc mũi ướt đánh hơi rất tài. Đã nhiều lần, nó tấn công và giết chết những con chuột cống đáng ghét dám mò vào bếp ăn vụng. Lucky thông minh lắm. Dường như nó hiểu được tiếng người, hiểu được ý định của người sai khiến. Vì em chăm sóc Lucky từ nhỏ nên nó gắn bó với em hơn cả. Trừ những lúc đi học, còn ở nhà thì em đi đâu, Lucky cũng theo sát như hình với bóng. Nó rất thích chơi trò kéo co với em và phần thắng bao giờ cũng thuộc về nó. Vì Lucky khoẻ như vậy nên em còn đặt thêm cho nó một biệt danh là Lực sĩ. Ban ngày, Lucky nằm trước thềm nhà, mõm gác lên hai chân trước, mắt lim dim. Nó chẳng ngủ đâu mà đang trông nhà đấy ! Một tiếng động nhẹ, một bóng người thoáng qua nó đứng phắt lên, dỏng tai nghe ngóng. Tiếng sủa của Lucky lớn và vang. Trông bộ dạng của nó lúc giận dữ, kẻ có tà ý phải lùi xa. Ban đêm, nó không hề ngủ, cứ đi loanh quanh để giữ nhà. Có nó mọi người rất yên tâm.Ấy thế nhưng đối với người thân, Lucky lại rất hiền. Nó thích bày tỏ tình cảm bằng cách bắt tay, ngoáy tít cái đuôi hay nằm khoanh dưới chân chờ lệnh. Lòng trung thành của Lucky đã để lại trong em một ấn tượng không thể nào quên. Mùa hè năm ngoái, vào một buổi chiều, bạn Quốc và bạn Tùng rủ em ra kênh tắm, Lucky cũng đi theo. Con kênh mới đào dẫn nước ngọt tưới mát cho cả một vùng. Từ ngày có dòng kênh này, quê em bốn mùa phủ kín một màu xanh của lúa khoai, cây trái Chiếc cầu bắc ngang kênh là nơi bọn con trai chúng em tụ tập vui chơi nô đùa hằng ngày. Chiều hôm ấy, chơi chán trò rồng rắn, trò đánh trận giả cả đám ùa xuống dòng kênh té nước vào nhau và la hét vang trời. Sau đó, chúng em thách nhau bơi thi xem ai giỏi nhất. Vốn không sợ nước và bơi cũng khá nên em nhận lời ngay. Sau tiếng hô bắt đầu của cu Tèo, ba “vận động viên” nhảy ùm xuống kênh, trổ tài bơi lội. Chặng đầu tiên, em vượt lên trước Quốc và Tùng cả đoạn dài. Tính hiếu thắng trỗi dậy, em dồn sức bơi thật nhanh để về đích trước.Nhưng Ôi! Sao chân trái của em tự nhiên cứng đờ và đau quá thế này! Em đã bị “chuột rút”. Không thể duỗi chân ra bơi tiếp được nữa nên em vội kêu to nhưng càng kêu, nước càng ộc vào miệng nhiều hơn. Em mất thăng bằng, lạng người đi rồi trôi theo dòng nước. Em sợ hãi nghĩ rằng phen này chắc em chết mất! Trong cơn hoảng hốt, bỗng nhiên tay em quờ phải một vật gì đó mềm và ấm. Rồi hình như có ai đó túm chặt lấy quần em, cố lôi đi. Em định thần nhìn kĩ thì hóa ra là Lucky, chú chó thân yêu. Nó đã dũng cảm lao xuống cứu em trong cơn nguy hiểm. Vừa lúc đó, Quốc và Tùng cũng đã đến, kịp thời dìu em vào bờ. Lucky rùng mình rũ nước rồi mừng rỡ chạy quanh em, cất tiếng sủa vang. Được chứng kiến cảnh chú chó liều mình cứu chủ, ai cũng khen là con chó có nghĩa. 13
  14. Còn em và tất cả những người thân trong gia đình từ hôm ấy lại càng thêm yêu quý Lucky. Câu 5:Giới thiệu về một vật dụng trong gia đình. Bài làm Đời sống của con người thì ngày càng tiến bộ.Các vật dụng trong gia đình đáp ứng cho cuộc sống của con người cũng ngày một tiến bộ theo.Trong số đó,phích nước là một vật liệu thông dụng trong gia đình mà chắc hẳn gia đình nào cũng phải sử dụng đến.. Phích nước là một đồ dùng trong gia đình dùng để giữ cho nước được nóng lâu.Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phích có mẫu mã,kiểu dáng khác nhau,có loại phích điện hiệ đại mà chỉ có các gia đình có kinh tế khá mới sử dụng.Nhưng loại phích dạng thông thường vẫn được sử dụng nhiếu hơn cả. Phích nước có dạng hình trụ,cao khoảng 49 đến 50 cm.Cấu tạo gồm hai phần :vỏ phích và ruột phích.Vỏ phích có thể được làm bằng nhựa hoặc nhôm.Bên ngoài vỏ phích người ta thường trang trí hoa văn,hình vẽ trông rất đẹp mắt.Dọc theo thân vỏ có một cái quai cầm để người sử dụnh dễ cầm,mang,xách và thuận lợi cho việc chế nước từ trong phích ra ngoài.Ngoài ra,trên vỏ phích còn có một cái quai xách chắc chắn để thuận tiện cho việc di chuyển phích nước.Bên trong vỏ phích được làm làm bằng thủy tinh có tráng thủy để giử độ nóng cho nước trong 1 thời gian nào đó.Nút phích là một bộ phận dùng đậy ruột phích ,nút phích có thể là nhựa,gỗ hoặc bằng nút thủy tinh tròn.Nút phích còn được bao đậy bởi nắp phích.Nắp phích được làm bằng nhực hoặc làm bằng nhôm tùy theo chất liệu của vỏ phích. Cách sử dung phích nước thì rất đơn giản.Ta chỉ cần chế nước sôi vào ruột phích,sau đó đậy chặt nuts phích và nắp phích lại,khi nào cần thì mới mở nắp phích ra để lấy nước.Thông thường,các loại phích dạng này chỉ giữ đươc nước nóng không quá 6 tiếng.Khi mới mua về,chúng ta không nên sử dụng ngay mà phải cho nước ấm hoặc một ít nước giấm khoảng từ 50-60 độ C vào ruột phích,tráng đều để ruột có khả năng giữ nhiệt cao.Ruột phích là một bộ phận quan trọng nhất của phích nước,vì thế khi mua,ta phải quan sát thử xem ruột phích có bị nứt hay không.Một kinh nghiệm để chọn phích nước là áp tai vào miệng phích,nếu nghe tiêng"o..o"thì là phích tốt.Khi lựa mua phích nước,người tiêu dùng cần phải lưạchọn thạt kĩ và chính xác thì mới có thể xài phích được lâu. Phích nước rất thuận lợi cho chúng ta.Nhờ phích,ta có thể sử dung nước nóng bất cứ khi nào.Không phải tốn nhiều thời gian đun nước.Mỗi lần như vậy không những mất nhiều thời gian của ta mà còn hao tốn gas,điện.. Việc bảo quản phích nước thì cũng rất đơn giản.Sử dụng lâu,ruột phích sẽ bẩn và có nhiều cặn.Vì thế chiúng ta nên lau rửa thường xuyên.Có thể cho một ít giấm hoặc chanh vào để rửa,sau đó rửa lại bằng nước sạch.Đặc biệt khi sử dụng phải chú ý nhẹ nhàng cẩn thận khi đặt phích xuống.Hơn nữa,phải đặt phích ở một vị trí thật an toàn,không nên đẻ quá thấp,tránh xa tầm tay trẻ em và cũng không nên để quá cao khi lấy sẽ khó khăn và có thể gây ra tai nạn nước sôi.Tốt nhất là nên đặt ở một độ cao nhất định và dễ lấy. Phích nước là một vật dụng vô cùng hữu ích và thông dụng đối với mỗi gia đình.Cuộc sống ngày một hiện đại,trong tương lai sẽ có nhiều loại phích hiện đại hơn thế nữa được ra đời có khả năng giữ nhiệt cao hơn loại phích thông thường này Câu 6: Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích. 14
  15. Bài làm Không biết tự bao giờ, cây hoa hồng đã trở thành một loài hoa tôn quý, vẻ đẹp của nó không thanh cao như hoa mai, không sặc sỡ như hoa ngũ sắc. Nhưng nó mang một vẻ đẹp mềm mại mà nhẹ nhàng, êm đềm như tình cảm của con người. Cây hoa hồng có tên khoa học là Rose, thuộc họ hoa hồng, có xuất xứ ôn đới và á nhiệt đới, vùng bắc bán cầu. Theo các nhà khoa học, thực vật học thì hoa hồng đã xuất hiện trên trái đất khoảng vài chục triệu năm, còn cây hoa hồng được con người thuần chủng đưa vào trồng trọt cũng đã cách nay khoảng vài ngàn năm. Người ta khẳng định hoa hồng đầu tiên ở Trung Quốc và Tiểu Á, sau đó mới du nhập vào châu Âu, nhưng người châu Âu lại có công lai tạo ta giống hoa hồng hiện đại ngày nay. Trên thế giới, mỗi khi nhắc đến đất nước Bungari, người ta lại nhắc đến cây hoa hồng. Nếu như nói Nhật Bản là xứ sở của hoa anh đào thì Bungari lại là xứ sở của hoa hồng. Cây hoa hồng được trồng ở hầu khắp cả nước ta, đặc biệt là Đà Lạt. Hoa Hồng thuộc họ rễ chùm, là loại cây thân gỗ bụi, thân và cành có gai nhọn, đó là một trong những nét đặc trưng của cây hoa hồng. Lá hoa hình bầu dục, rìa lá có răng cưa, gân lá hình mạng. Cánh hoa còn tùy thuộc vào từng loại hoa hồng. Hồng nhung Đà Lạt có thể xem là loại hồng đẹp nhất nước ta, cánh hoa mềm mại, xếp chồng xen kẽ lên nhau, gần như hình trái tim mang một màu đỏ tươi thắm, nó như hội tụ tất cả những tinh túy của đất trời, của cuộc sống, của thế giới các loài hoa. Hoa hồng có ba loại chính, đó là: hoa hồng dại, hoa hồng cổ điển và hoa hồng hiện đại.Hồng dại thường được thấy ở những nơi hoang dã, mọc ngoằn nghèo nên còn gọi là hồng leo. Hồng cổ điển là những giống hồng được thuần chủng, lai tạo từ trước năm 1867. Còn hồng hiện đại là những giống hồng được lai tạo từ sau năm 1867. Ở nước ta, hoa hồng còn được phân loại theo đặc tính của cây như: hồng cứng, hồng thạch, hồng quế, hồng cánh sen, hồng vàng... Cây hoa hồng như một món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chúng ta, nó làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần của con người. Người ta nói, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu: tình yêu gia đình, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình yêu đôi lứa... Cây hoa hồng như mang trong nó tâm linh của loài người, mỗi cánh hoa như ấp ủ một nỗi niềm, một tình cảm sâu lắng nào đó của con người. Trong ngày lễ "vu lan", vào chùa chúng ta thường thấy những bông hồng cài trên ngực áo thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng, rồi đến ngày Nhà giáo Việt Nam, từng lớp học trò lần lượt mang những canh hồng đỏ thắm dâng tặng lên thầy, cô kính yêu như thể hiện lòng biết ơn. Ngày lễ Valentin, ngày 8/3... chúng ta cũng không quên những bông hồng xinh xắn tặng cho các mẹ, các chị và đặc biệt là người yêu mình. Cứ như thế, cây hoa hồng đi vào thơ ca một cách tự nhiên không biết từ lúc nào, chúng ta thường nghe câu nói dân gian Hoa đẹp là hoa có gai, câu nói đó ám chỉ cây hoa hồng, rồi ta cũng thường nghe bài hát Bông hồng cài áo, đọc tác phẩm Hoa hồng Bungari... Không những phục vụ cho đời sống tinh thần, hoa hồng được phục vụ cho đời sống vật chất của con người. Một phòng họp, một phòng khách, một quán trà... có thêm một cành hồng trên bàn cùng đủ làm cho không gian thêm trang trọng và lãng mạn. Có thể nói rằng hoa hồng có tính trang trí cao. Hương hoa hồng không thơm ngát như hoa lài mà ngược lại rất nhẹ nhàng, dễ chịu. Vì vậy, hoa hồng được nhiều nước chọn nguyên liệu để làm nước hoa, mĩ phẩm, góp phần tôn lên vẻ đẹp của con người. Hoa hồng cũng được trồng kể kinh doanh, thu lợi nhuận. 15
  16. Nhìn chung, hoa hồng ở Việt Nam thích nghi nhiệt độ trung bình từ 18 - 25oC, độ ẩm tối đa 85%, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000-2000 mm, độ pH từ 5,6 - 6,5. Trong mùa hè, do nhiệt độ lên cao, độ ẩm lớn cây hoa hồng có nguy cơ xuất hiện các loại bênh như gỉ sắt, phấn trắng, rệp. Nếu cây bị nấm phấn trắng trong vụ xuân thì dùng đồng sulfat 1% để tưới, đồng thời phải cắt bỏ những cành bị bệnh nặng và đốt đi. Đất dùng để trồng hoa hồng phải bằng phẳng, tơi xốp.Hoa hồng thường được nhân giống theo ba cách: giâm cành, chiết cành hoặc ghép cành. Như thế, cây hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp và tâm tình, nó không thể thiếu trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Vì vậy, bảo vệ và phát triển giống hoa hồng là điều cần thiết mà con người cần làm hiện nay. Câu 7: Giới thiệu về một cảnh đẹp quê hương em. Bài làm Thuộc vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới 60km, động Phong Nha được coi là "Thiên Nam đệ nhất động" của Việt Nam. Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với tổng chiều dài lên đến khoảng 20km nhưng hiện nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất, là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất. Nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha- Ðam cách đó hơn 20km về phía nam. Trước cửa động, cảnh núi non sông nước quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người. Vào mùa nước lớn, nước sông Son dâng cao che khuất cửa hang, thuyền du lịch không vào đây được. Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương. Cửa động rộng khoảng 20m, cao 10m, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiếng mái chèo như có tiếng chiêng vẳng lên. Người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra... Tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiếng trống. Phong Nha có trên 20 buồng với hành lang chính dài tới 1500m và nhiều hành lang phụ dài hàng trăm mét. Các hang ngoài cùng có trần cao hơn mặt nước rộng khoảng 10m. Các hang phía trong, từ hang thứ 4 trở vào trần hang cao đến 25-50m. Từ buồng thứ 14, du khách theo các hành lang khác đi sâu hơn nữa dưới mặt đất đến những buồng to hơn rộng hơn nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còn tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là hang nước cạn do nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ. Khó có thể mô tả vẻ đẹp hùng vĩ của những buồng, những hành lang đá vôi phủ đầy thạch nhũ long lanh dưới ánh đuốc của dòng sông ngầm. Du khách vừa xúc động vừa ít nhiều hồi hộp lo sợ khi thấy mình như đang nằm trong miệng một con quái vật khổng lồ: với những hình thù kỳ dị nguyên sơ mà trí tưởng tượng của con người tha hồ gán cho chúng biết bao huyền thoại, sự tích. Sau hàng chục cuộc thám sát khoa học của người Việt, người Pháp, người Anh... động Phong Nha vẫn còn đó với những điều bí ẩn.Vào mùa nước lớn, nước sông Son dâng cao 16
  17. che khuất cửa hang, thuyền du lịch không vào đây được. Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương. Cửa động rộng khoảng 20m, cao 10m, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiếng mái chèo như có tiếng chiêng vẳng lên. Người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra... Tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiếng trống. Phong Nha có trên 20 buồng với hành lang chính dài tới 1500m và nhiều hành lang phụ dài hàng trăm mét. Các hang ngoài cùng có trần cao hơn mặt nước rộng khoảng 10m. Các hang phía trong, từ hang thứ 4 trở vào trần hang cao đến 25-50m. Từ buồng thứ 14, du khách theo các hành lang khác đi sâu hơn nữa dưới mặt đất đến những buồng to hơn rộng hơn nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còn tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là hang nước cạn do nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ. Khó có thể mô tả vẻ đẹp hùng vĩ của những buồng, những hành lang đá vôi phủ đầy thạch nhũ long lanh dưới ánh đuốc của dòng sông ngầm. Du khách vừa xúc động vừa ít nhiều hồi hộp lo sợ khi thấy mình như đang nằm trong miệng một con quái vật khổng lồ: với những hình thù kỳ dị nguyên sơ mà trí tưởng tượng của con người tha hồ gán cho chúng biết bao huyền thoại, sự tích. Sau hàng chục cuộc thám sát khoa học của người Việt, người Pháp, người Anh... động Phong Nha vẫn còn đó với những điều bí ẩn. Câu 8: Giới thiệu về một tác phẩm văn học. Bài làm "Tắt đèn" là cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của Ngô Tất Tố, cây bút truyện kí tiêu biểu của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm có 26 chương mà chương XVIII là chương xảy ra xung đột cơ bản nhất của người nông dân với bọn cường hào ác bá trong làng. Qua “Tức nước vỡ bờ" (một đoạn trích của chương XVIII), Ngô Tất Tố đã vẽ lên bức tranh xã hội đương thời, một xã hội thối nát tàn bạo và bẩn thỉu ghê tởm. Cái xã hội thực dân phong kiến đã đày đoạ người nông dân đến đường cùng mà biểu hiện trong "Tức nước vỡ bờ" chính là tên cai lệ hông hách, tàn ác; bọn người nhà lý trưởng hèn yếu mà cũng dã man không kém. Chúng như những con chuột ma ranh cố mà đục, mà khoét. Từ những của cải vật chất nhỏ nhoi của người nông dân đến những người sức lực điền mạnh mẽ nay chỉ còn là những hơi tàn sức kiệt chúng vẫn không buông tha, vẫn "dai như đỉa" mà hành hạ. Cũng qua vài trang ngắn ngủi mà đậm nét chân thực, sinh động của "Tức nước vỡ. bờ", Ngô Tất Tố đã lên án gay gắt, căm ghét tột cùng cái xã hội thực dân phong kiến tàn ác, dã man kia để cho một kết thúc chị Dậu quật ngã tên cai lệ và người nhà lý trưởng; đồng thời tác giả cũng bày tỏ một sự cảm thông sâu sắc chân thành với số phận cùng quẫn, bi thưởng của người nông dần mà cụ thể là chị Dậu. Ôi! Cái gia đình đầm ấm yên vui của chị đã bị chính sách sưu thuế ác nghiệt kia làm cho tan nát. Số phận và tiền đồ của chị thật tối tăm như bầu trời đêm 30 không trăng sao vậy. Không chỉ lên án gay gắt xã hội thực dân phong kiến, cảm thông sâu sắc với người nông dân, Ngô Tất Tố còn đề cao những nhân phẩm cao quý của họ với những nét đẹp truyền 17
  18. thống tiềm tăng: phẩm chất thương yêu chồng con tha thiết của chị Dậu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ người chồng ốm yếu; phẩm chất thanh cao "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" không hám danh lợi tiền tài của chị và đặc biệt là sức sống tiềm tàng đã ấp ủ bấy lâu trong lòng người phụ nữ nông dân đã bùng cháy đúng lúc để cứu chồng thoát khỏi nanh vuốt của lũ hùm sói cai lệ và người nhà lý trưởng. Và cuối cùng qua "Tức nước vỡ bờ" Ngô Tất Tố đã quan tâm đến vấn đề hết sức bức thiết trong cuộc sống đương thời, đó là nhu cầu được sống những ngay bình yên, được hưởng hạnh phúc trong mái ấm gia đình bình dị của người nông dân. Đặc sắc nghệ thuật trong "Tức nước vờ bờ" của Ngô Tất Tố thực sự làm chúng ta khâm phục. Nhà văn đã xây dựng một nhân vật chị Dậu điển hình, là tượng trưng cho tất cả những người phụ nữ nông dân với những phẩm chất cao đẹp, đáng quý nhất của loài người chúng ta. Và đặc biệt nhà văn đã sử dụng những lời lẽ hết sức dân dã, đời thường mà sinh động, chân thực, làm chúng ta như đang sống giữa cuộc sống bất công đương thời để chứng kiến những điều ngang trái. Và chính sự kết hợp tài tình giữa 3 phương thức: tự sự, miêu tả và biểu cảm để làm nổi bật tình huống máu thuần cơ bản của tác phẩm giữa hai giai cấp đối kháng đã thực sự thể hiện tài năng tiểu thuyết xuất chúng của Ngô Tất Tố. "Tức nước vỡ bờ" nói riêng và "Tắt đèn" nói chung sẽ mãi là một tác phẩm đặc sắc trong nền văn học hiện đại nước ta. Nó đã có những thành công vang dội và ảnh hưởng rõ rệt đến xã hội đương thời. Song vẫn còn có những hạn chế nho nhỏ. Nhưng "Tức nước vờ bờ", "Tắt đèn'' sẽ luôn là một tuyệt tác để chúng ta khâm phục và nhớ đến Ngô Tất Tố - nhà văn hiện thực xuất sắc. HỌC KỲ 2 PHẦN I: PHẦN VĂN Mượn lời con hổ trong Bút pháp lãng mạn rất vườn bách thú để diễn tuyền cảm, sự đổi mới tả sâu sắc nỗi chán ghét câu thơ, vần, nhịp điệu, Thơ thực tại tầm thường, tù phép tương phản, đối Nhớ Thế Lữ 1 mới 8 túng và khao khát tự do lập, nghệ thuật tạo hình rừng 1907-1989 chữ/câu mãnh liệt của nhà thơ, đặc sắc. khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước thời đó. Tình quê hương trong Lời thơ bình dị, hình sáng, thân thiết được ảnh thơ mộc mạc mà thể hiện qua bức tranh tinh tế lại giàu ý nghĩa tươi sáng, sinh động về biểu trưng Thơ Quê Tế Hanh một làng quê miền 2 mới 8 hương 1921 biển, trong đó nổi bật chữ/câu lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt làng chài. 18
  19. Tình yêu cuộc sống và Giọng thơ tha thiết, sôi Khi Tố Hữu khát vọng tự do của nổi, tự tin phong phú. 3 con tu Lục bát 1920- 2002 người chiến sĩ cách hú mạng trong tù. Tinh thần lạc quan, giọng thơ hóm hỉnh, nụ Tức Hồ Chí ĐL thất phong thái ung dung cười vui, từ láy. 4 cảnh Minh1890- ngôn tứ của Bác Hồ trong cuộc Pác Bó 1969 tuyệt sống cách mạng đầy gian khổ ở Pắc Bó. PHẦN II: TIẾNG VIỆT: I. CÂU: TT Câu Đặc điểm hình thức Chức năng chính Ví dụ 1 Câu nghi - Có những từ nghi vấn - Dùng để hỏi - Mai cậu có vấn (ai, gì, nào, sao, tại sao, - Ngoài ra còn dùng để đe phải đi lao động đâu, bao giờ, bao nhiêu doạ, yêu cầu, ra lệnh, bộc không? ...hoặc từ hay (nối các vế lộ tình cảm cảm xúc... - Cậu chuyển có quan hệ lựa chọn giùm quyển - Kết thúc câu bằng dấu sách này tới H hỏi chấm (?). Ngoài ra được khong? còn kết thúc bằng dấu chấm, dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng. PHẦN III: TẬP LÀM VĂN: A. VĂN THUYẾT MINH: * HS ôn kĩ các dạng đề sau: - Viết đoạn văn giới thiệu tập "Nhật kí trong tù" của HCM. - Bài văn thuyết minh một phương pháp (cách làm) - Bài văn thuyết minh về di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh Tân Lợi, ngày 16/03/2020 Người biên soạn Lưu Trung Đông 19