Đề tài Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối trung học cơ sở - Nguyễn Thị Danh
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối trung học cơ sở - Nguyễn Thị Danh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_tai_mot_so_hinh_thuc_gioi_thieu_bai_doi_voi_mon_ngu_van_k.doc
Nội dung tài liệu: Đề tài Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối trung học cơ sở - Nguyễn Thị Danh
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS MỘT SỐ HÌNH THỨC GIỚI THIỆU BÀI ĐỐI VỚI MƠN NGỮ VĂN KHỐI TRUNG HỌC CƠ SỞ A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI I./ NHẬN THỨC VẤN ĐỀ Hiện nay trên thế giới nĩi chung, ở Việt Nam nĩi riêng từ nhà trường phổ thơng đến đại học. Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục đang diễn ra mạnh mẽ. Điều này xuất phát từ nhu cầu bức thiết. Chỉ cĩ khơng ngừng cải tiến phương pháp giáo dục và phương pháp dạy học theo hướng đặc biệt coi trọng đến việc đào tạo những con người tự chủ, năng động, sáng tạo cĩ năng lực giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra, thì giáo dục mới thât sự là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của xã hội. Nĩi đến phương pháp dạy học là nĩi đến cách dạy của người thầy. Trong chương trình giáo dục phổ thơng, ngữ văn là một mơn học cĩ vị trí quan trọng. Hơn nữa đây là mơn học đặc biệt vì nĩ cĩ sự hợp thành ba phân mơn: Văn học-Tiếng Việt-Tập Làm Văn. Dù mỗi phân mơn đều cĩ nhiệm vụ đặc thù riêng nhưng giũa chúng vẫn cĩ mối liên hệ khá chặt chẽ: Văn học gĩp phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, bồi dưỡng đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú, giúp người học tự mình nhận thức về mình để sống cĩ nhân cách, trong sạch, cao thượng và bản lĩnh trườc mọi biến động của cuộc sống. Tiếng Việt lại cĩ vai trị trang bị cho học sinh cơng cụ ngơn ngữ, vừa là mơn học khoa học xã hội và nhân văn cĩ nhiệm vụ trang bị cho học sinh những kiền thức khoa học về Tiếng Việt, những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt ở phương diện ngơn ngữ và văn hĩa. Trên nền tảng ấy, phân mơn Tập Làm Văn lại là sản phẩm của quá trình nhận thức mơn Văn học và Tiếng Việt. Nĩ là sự tổng hợp tồn diện về nhiều phương diện như: kinh nghiệm sống, vốn văn hĩa, trình độ chính trị, năng lực tư duy và cả về phương diện nhân cách, cá tính người cầm bút. Rõ ràng để học sinh học tốt, tồn diện mơn Ngữ văn ở trường phổ thơng địi hỏi người giáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tịi, sáng tạo ra những hình thức tổ chức dạy học sinh động, đưa học sinh đến với mơn học này bằng hình thức tự giác, bằng sự say mê thật sự. Cĩ như thế mới cĩ thể đạt được mục đích giáo dục nhân cách. Tính chất đặc thù của mơn học đậm tính nhân văn này II/ THỰC TRẠNG Hiện nay mơn Ngữ văn trong nhà trường đang dần được coi trọng hơn và đang dần đặt đúng vị trí của nĩ thế nhưng trong thực tế vẫn cịn nhiều điều đáng nĩi. Đĩ là phần lớn học sinh cĩ những biểu hiện chán học, ít cĩ khả năng cảm nhận đúng với ý nghĩa của nĩ. Điều đĩ thể hiện rất rõ ở những giờ viết văn tại lớp, lối viết hời hợt thiếu logic, sai chuẩn mực, những bài văn sáo rỗng. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu , học giả nhận định, phân tích đánh giá trong nhiều năm nay, tựu chung lại vẫn chỉ là phương pháp. Nhất thiết phải thay đổi phương pháp thì mới cĩ thể “ học sinh trở về với mơn văn, với vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ hàng ngày, những bài học nhân văn sâu sắc, những rung cảm, nhận thức đúng đắn về con người và cuộc sống ” thơng qua đĩ mà bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách, hình thành cho các em 1
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS những cảm xúc thẩm mỹ, tình cảm nhân văn, lịng yêu quê hương, đất nước, con người, khát vọng sống đẹp, sống cao thượng. Nĩi đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, người ta thường dịi hỏi trang thiết bị hiện đại, đủ mọi phương tiện, học cụ nhưng họ lại thường quên điều chính yếu nhất đĩ là sự đổi mới tư duy và cách dạy của người thầy, cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Để làm được điều đĩ người thầy luơn phải suy nghĩ, tìm tịi sáng tạo ra những phương pháp tích cực nhất, tạo hiệu quả cao cho giờ dạy của mình. Từ những vấn đề trên, bản thân tơi đã cố gắng xây dựng một số hình thức giới thiệu bài mới đối với mơn Ngữ văn. Giúp các em bước đầu cĩ một tinh thần hăng hái, hứng thú, khám phá và lĩnh hội những giá trị thẩm mỹ ẩn chứa trong bài học diễn ra sau ít phút. Theo tơi nghĩ, đĩ sẽ là khúc dạo đầu tuyệt vời sẵn sàng tiếp nhận tri thức, đánh thức ở các em tâm trạng và thái độ học tập. Đĩ chính là phương pháp mà tơi muốn đề cập đến ở đề tài này. B. NỘI DUNG THỰC HIỆN Thơng thường một tiết lên lớp đối với mơn Ngữ văn theo nguyên tắc người giáo viên cần đảm bảo 5 bước: Ổn định, kiểm tra bài cũ, bài mới, củng cố và dặn dị. Trong đĩ bước thứ 3 vẫn là bước trọng tâm vì đây là bước truyền thụ kiến thức mới. Dù ít hay nhiều thì đây vẫn là một thao tác luơn được giáo viên thực hiện. Dạy văn vốn là một nghệ thuật, vì vậy buớc khởi đầu của việc khám phá, lĩnh hội kiến thức của thầy và trị sẽ khơi gợi lên bao niềm say mê được khám phá, đem lại những rung cảm về những cái hay, cái đẹp, cái quyến rũ của bài học sau đĩ. Để tiết dạy đạt được tiêu chuẩn trên. Dưới đây là một số hình thức giới thiệu bài mới mà tơi đã thực hiện: 1. Giới thiệu bằng cách xem băng hình: Cĩ thể nĩi một trong những yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục hiện nay chính là dạy bằng máy mĩc, băng hình điều đĩ tạo hứng thú ở học sinh rất lớn. Các em được tận mắt nhìn thấy những hình ảnh cụ thể sinh động, chắc chắn sẽ lưu lại ở các em những kiến thức khĩ phai mờ và tạo cho các em sự thoải mái, hứng thú, hiểu biết về bài mới một cách hiệu quả nhất. * Cụ thể minh họa cho bài “ Động Phong Nha” văn học 6 tập 2, tơi đã thực hiện các bước giới thiệu như sau: Sau khi thực hiện bước kiểm tra bài cũ xong, giáo viên bật băng hình quay về cảnh động khơ, động nước với những hình ảnh lộng lẫy và huyền ảo cùng với lời bình cụ thể sinh động, đi sâu vào lịng người vì vậy học sinh rất hứng khởi và tích cực khi quay trở lại khai thác những chi tiết mới trong phần tìm hiểu sắp tới. Giáo viên: Mặc dù đã cĩ lời bình tơi cũng cĩ một vài lời dẫn dắt để xác định trọng tâm sẽ khai thác cái gì? Bài mới. 2
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS * Đối với bài “ Vượt Thác”: Ngữ văn 6 Sau khi thực hiện bước kiểm tra bài cũ xong, giáo viên bật băng hình quay về sơng Thu Bồn, tuyển tập “ Quê nội” của Võ Quảng rồi dẫn vào bài: Ơ bài “ Sơng bước Cà Mau”, chúng ta đã theo chân bé An đến với Cà Mau tham quan cảnh sắc phong phú, tươi đẹp của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Với bài “ Vượt thác” hơm nay, Dượng Hương Thư lại dẫn chúng ta ngược dịng sơng Thu Bồn ở Trung Trung Bộ đến thượng nguồn lấy gỗ. Chúng ta cùng tìm hiểu bức tranh sơng nước với đơi bờ miền Trung này. 2. Giới thiệu bằng hình thức thuyết trình: Dùng lời văn để giới thiệu bài học là hình thức phổ biến nhất trong phần vào bài của hầu như tất cả các giáo viên. Chỉ cần nhấn mạnh yêu của bài học nên phạm vi kiến thức gần đạt đuợc hoặc dẫn dắt, giới thiệu tên bài học là đã đủ để vào bài. Tuy nhiên dù đơn giản chỉ vài câu nĩi, nếu giáo viên khơng cĩ sự chuẩn bị về nội dung thuyết trình hoặc lời thuyết trình quá nhạt nhẽo thì cũng khơng thể thu hút sự tập trung của học sinh vào bài học. Điều này lại càng cần thiết đối với mơn Ngữ văn- một mơn học cĩ tính chất trữ tình, giàu cảm xúc. Dưới đây là một số thuyết trình tơi thường sử dụng để giới thiệu bài mới. 2.1 Giới thiệu văn bản “ Qua đèo Ngang”- Ngữ văn 7 tập 1 Em cĩ biết đây là bức tranh về cảnh nào khơng? Học sinh suy nghĩ trả lời Giáo viên: Đây là cảnh Đèo Ngang . Các em ạ! Đèo Ngang là một địa danh nổi tiếng trên đất nước ta. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã từng viết một câu thơ rất dí dỏm và bất ngờ: 3
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS Bao nhiêu người làm thơ về đèo ngang Mà khơng biết con đèo chạy dọc Đúng là cĩ biết bao người làm thơ về đèo Ngang, như Cao Bá Quát cĩ bài: Lên núi Hồnh Sơn, Nguyễn Khuyến cĩ bài: Qua núi Hồnh Sơn, Nguyễn Thựơng Hiền cĩ bài: Mùa xuân trong núi Hồnh Sơn tựu trung được nhiều người biết và yêu thích nhất vẫn là bài: Qua đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan. Bài thơ như một ký thơ đậm chất trữ tình. Hơm nay cơ- trị chúng ta sẽ tìm hiểu bài thơ này. 2.2 Giới thiệu bài: “ Sơng núi nước Nam” Ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi đất nước ta giành được độc lập. Bác Hồ đại diện cho dân tộc Việt Nam đứng trên lễ đài tuyên bố với quốc dân điều gì? Lời tuyên bố đĩ chúng ta gọi là gì? Học sinh suy nghĩ trả lời. Giáo viên dẫn dắt: Đĩ khơng phải là bản tuyên ngơn độc lập đầu tiên đâu mà từ ngàn xưa,dân tộc Việt Nam ta đã đứng lên chống giặc ngoại xâm rất oanh liệt. Tự hào thay! Ơng cha ta đã đưa đất nước sang một trang lịch sử mới. Đĩ là thốt khỏi ách đơ hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc, kỷ nguyên mới đã mở ra. Vì thế bài thơ: “ Sơng núi nước Nam” ra đời được coi là bản tuyên ngơn độc lập đầu tiên, khẳng định một quốc gia độc lập chủ quyần. Hơm nay chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về nội dung bản tuyên ngơn này. 2.3Giới thiệu bài: Các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm- Ngữ văn 7 Tơi sẽ chuẩn bị một bảng phụ trong đĩ dẫn một đoạn văn cĩ yếu tố tự sự và miêu tả như sau: “ Cuộc đời của mẹ vất vả gian lao suồt một đời chỉ lo cho hai chị em tơi ăn học, khơn lớn lên người. Cầm bàn tay thơ ráp, chai sần con áp lên má mỗi khi ngả vào lịng mẹ mà xĩt thương vơ cùng. Bàn tay cứ bĩc từng miếng da nứt nẻ, các ngĩn tay chẳng thon gọn cịn những chiếc mĩng thì chẳng thể dài ra nổi, cĩ lẽ vì mẹ làm lụng quần quật suốt ngày, hết mùa cấy tay ngâm bùn đến đốn củi kiếm tiền mua gạo. Mẹ của con làm khơng ngừng nghỉ. Mẹ ơi! Con thương mẹ vơ cùng, một cuộc đời dãi nắng dầm sương mẹ đã dìu dắt chúng con vượt qua tất cả. Ơi! Mẹ của con thật lớn lao”. Yêu cầu học sinh câu nào là tự sự, câu nào là miêu tả sau khi học sinh đã phát hiện hai loại câu trên, câu cịn lại giáo viên dẫn dắt. Trong văn biểu cảm, các yếu tố tự sự và miêu tả đĩng vai trị rất quan trọng. Mối quan hệ này được hình thành trên cơ sở của sự tác động qua lại tất yếu giũa các phương thức biểu đạt. Hơn nữa mọi cảm xúc của con người đều hướng về cuộc sống. Đĩ là những sự viậc, hình ảnh, những cảnh đời. Nếu khơng kể lại, khơng tả lại thì làm sao giúp người khác hiểu được cảm xúc của mình. Bài hơm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về hai yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm. 2.4 Chúng ta đã biết văn nghị luận viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đĩ. Muốn thế văn nghị luận phải cĩ một luận điểm rõ ràng, cĩ lí lẽ, dẫn chứng thưyết phục. Những tư tưởng, quan điểm trong bài nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề cĩ thực trong đời sống thì mới cĩ ý nghĩa, cĩ tác dụng. Tong kho tàng văn nghị luận Việt Nam, bài “ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đánh giá là một trong những áng văn nghị luận 4
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS kiểu cách mạng tiêu biểu, mẫu mực nhất. Ang văn ấy đã làm sáng tỏ một chân lí: Dân tộc Việt Nam Yêu nước nồng nàn. 2.5 Giới thiệu bài: “ Cuộc chia tay của những con búp bê” Ngữ văn 7 Trong cuộc sống bên cạnh những trẻ em đuợc sống trong gia đình hạnh phúc, cĩ cha mẹ yêu thương, chăm sĩc, được học hành thì cũng cĩ những em cĩ hồn cảnh bất hạnh phải chia lìa người thân khiến các em đau đớn, xĩt xa. Đĩ chính là hồn cảnh của hai em Thành, Thủy trong văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê. 3. Giới thiệu bằng hình tức kiểm tra bài cũ rồi dẫn vào bài mới: Cĩ thể nĩi một trong những yêu cầu của chương trình giáo dục hiện nay chính là tính hệ thống, tính hợp lí, chặt chẽ của các đơn vị kiến thức, giữa kiến thức cũ và kiến thức mới trong một mơn học luơn cĩ mối quan hệ logic chặt chẽ. Vì vậygiới thiệu bằng hình thức kiểm trabài cũ rồi dẫn vào bài mới luơn là phương pháp phổ biến mà người giáo viên thường thực hiện. Hơn nữa mơn Ngữ văn ở bậc Trung học cơ sở hiện nay lại được hợp thành từ ba nhĩm: Văn học-Tiếng Việt-Tập làm văn nên tích hợp lại càng rõ nét. Từ bài dạy văn bản tiết trước, giáo viên cĩ thể kiểm tra một đơn vị kiến thứcnào đĩ rồi rồi lấy cơ sở dẫn vào bài dạy Tiếng Việt ở hơm sau, rồi cũng cĩ thể từ kiến thức đã học ở phân mơn Văn học-Tiếng Việt mà dẫn vào bài dạy Tập Làm Văn sau đĩ. Rõ ràng khi thực hiện thao tác này người giáo viên đã cùng một lúc đạt hai mục đích: củng cố kiến thức cũ, khơi gợi gây hứng thú cho học sinh tiếp xúc bài mới một cách hiệu quả nhất. Sau đây là một số minh họa cụ thể: 3.1. Khi dạy Tiếng Việt tiết 18, bài Từ Hán Việt( Ngữ văn 7) tơi đã thực hiện việc kiểm tra bài cũ với văn bản “ Sơng núi nước Nam” bằng việc lần lượt đặt ra các câu hỏi: - Hãy đọc thuộc lịng bản phiên âm của bài thơ? - Theo em tại sao cĩ thể nĩi bài thơ là một bản tuyên ngơn độc lập của dân tộc ta? - Để khẳng định trước kẻ thù chủ quyền lãnh thổ đất nước và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đĩ của dân tộc ta như thế nào? Tại sao? Sau khi học sinh lí giải tốt các vấn đề phát hiện được các từ như: đế, cư, thiên thư giáo viên sẽ trực tiếp nhấn mạnh sắc thái biểu cảm cũng như ý nghĩa của các yếu tố Hán Việt trên rồi dẫn vào bài mới ( Sau khi giáo viên đã đánh giá nhận xét và cho điểm học sinh ) 3.2 Trên đây là hình thức khởi động bằng việc kiểm tra bài cũ rồi dẫn vào bài mới theo liên kết chiều ngang, một chuỗi bài học trong tuần này. Tuy nhiên cũng cĩ khi kiểm tra bài cũ của chúng ta lại theo chiều dọc từng phân mơn cũng linh hoạt khơng kém: Ví dụ: Khi dạy bài “ Các thành phần chính của câu” ( Ngữ văn 6-Tiếng Việt ) tơi thực hiện như sau: - Dùng ví dụ cĩ sử dụng biện pháp tu từ hốn dụ( trình bày bảng) Sáng sáng, áo trắng quần xanh tung tăng đến trường. - Yêu cầu học sinh đọc to ví dụ - Lần lượt đặt ra các câu hỏi kiểm tra kiến thức: Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn trên? Ví dụ trên đang sử dụng kiểu hốn dụ nào? Từ đĩ nêu khái niệm hốn dụ? 5
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS - Sau khi học sinh trả lời- giáo viên nhận xét, cho điểm rồi dẫn vào bài nếu cĩ, hãy xác định các thành phần của câu trên. Học sinh dựa vào kiến thức đã học phát biểu từ đĩ giáo viên giới thiệu, đặt vấn đề và hướng học sinh vào bài học. 3.3 Cách giới thiệu bài khi dạy văn bản “ Mẹ tơi” ( Ngữ văn 7- tiết 2 ): - Câu hỏi kiểm tra bài cũ: ? Sau khi học xong văn bản “ Cổng trường mở ra” em cĩ cảm nhận gì về tình cảm và tấm lịng người mẹ trong đêm trước ngày con vào lớp 1? Suy nghĩ của em về tình mẫu tử? Em cần cĩ thái độ như thế nào đối với mẹ của mình? - Dẫn vào bài mới: Từ nội dung trả lời của học sinh, giáo viên lấy đề tài về tình mẫu tử thiêng liêng để dẫn vào bài mới. Chắc chắn qua sự lựa chọn kiến thức để kiểm tra bài cũ như trên chúng ta đã tạo nên một tính kết dínhsâu sắc giữa đơn vị kiến thức cũ đồng thời bản thân học sinh khơng những hứng thú đối với giờ học mới mà cịn được củng cố lại kiến thức cho giờ học mới một cách cĩ hiệu quả. 4. Giới thiệu bằng hình thức tích hợp ngang-dọc: Ơ hình thức giới thiệu này, tơi cĩ đề cập đến việc kiểm tra bài cũ để tích hợp từ kiến thức cũ sang kiến thức mới. Tuy nhiên thực tế cho thấy khơng phải lúc nào ta cũng chỉ lựa chọnnhững đơn vị kiến thức cĩ liên quan đến bài học mới để thực hiện mục đích vào bài mới bỏ qua những kiến thức trọng tâm, vì vậy sau phần kiểm tra bài cũ cĩ những bài dạy tơi chọn cho mình cách giới thiệu bài riêng và cách khởi động này thường bám sát yêu cầu, tích hợp theo hai dạng: tích hợp ngang và tích hợp dọc. Cụ thể như sau: 4.1 Giới thiệu bằng hình thức tích hợp ngang: a/ Dạy bài: “ Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận” ( Ngữ văn 8) tơi thực hiện một chuỗi câu hỏi: - Hãy kể tên các văn bản nghị luận mà em vừa được học? - Ngồi phương thức biểu đạt chính là nghị luận, các văn bản trên cịn sử dụng phương thức biểu đạt nào khác nữa? Học sinh tự bộc lộ, giáo viên nhận xét cho điểm rồi dẫn dắt: Việc sử dụng thêm phương thức biểu cảm trong các văn bản nghị luận trên nhằm mục đích gì? Vai trị, tác dụng của nĩ trong văn bản nghị luận ra sao, chúng ta sẽ tìm hiểu qua bài học hơm nay b/ Giới thiệu khi dạy tiết 64 Tập làm văn “ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự” Ngữ văn 9 Giáo viên hỏi: Văn bản tự sự thường kết hợp với các yếu tố nào? Giáo viên cho ví dụ: ( bảng phụ ) Hỏi tên, rằng “ Mã Giám Sinh” Hỏi quê, rằng “ huyện Lâm Thanh cũng gần” - Qua câu thơ em thấy được bản chất và tính cách của nhân vật khơng? Đĩ là bản chất như thế nào? - Em hiểu được bản chất đĩ là nhờ yếu tố nào? 6
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS Giáo viên dẫn dắt: Câu trên lời của Mã Giám Sinh là lời đối đáp hay đúng hơn Mã Giám Sinh đang đối thoại với tư cách là một chàng rể. Qua lời đối thoại này, nhà thơ Nguyễn Du đã khắc họa tính cách và phẩm chất của nhân vật một cách khá rõ nét. Đây là một ví dụ minh họa. Vậy trong văn bản tự sự ngồi sự kết hợp với yếu tố miêu tả, biểu cảm , nghị luận thì yếu tố đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm cũng là những hình thức quan trọng để thể hiện nhân vật bài học. 4.2 Giới thiệu bằng hình thức tích hợp dọc: Đối với tiết dạy văn bản, hình thức giới thiệu theo hướng tích hợp dọc cĩ thể thực hiện bằng các kiểu loại văn học đã được học ở các lớp dưới, hoặc cá tác giả, tác phẩm ra đời cùng giai đoạn. Việc tích hợp này một mặt đem lại tính khái quát cĩ hệ thống các kiến thức đã học, vừa giúp cho học sinh cĩ sự nhận diện, thấu hiểu sâu sắc về nội dung bài học mới. Chẳng hạn khi dạy văn bản nhật dụng đầu tiên của chương trình lớp 8 về bài: “ Thơng tin ngày thế giới năm 2000” tơi cĩ cách khởi động như sau: - Từ lớp 6 đến nay em đã được học những văn bản nhật dụng nào, kể tên? Các văn bản đĩ tập trung vào vấn đề nào? Học sinh trả lời theo hiểu biết. Trên cơ sở trình bày của học sinh. Giáo viên giới thiệu bài mới: Bên cạnh những đề tài về di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, giáo dục và vai trị của người phụ nữ, văn hĩa, đất nước mà các em đã được học ở chương trình 6,7, thì nội dung các văn bản nhật dụng mà các em đã được học trong chương trình lớp 8 năm nay hướng vào các vấn đề mơi trường, tệ nạn ma túy, thuốc lá và vấn đề dân số. Bài văn “ Thơng tin về trái đất năm 2000” được học hơm nay sẽ cung cấp cho các em những hiểu biết về vấn đề mơi truờng và sự tác động của nĩ đến đời sống con người như thế nào? Đồng thời cho ta biết Việt Nam đã tham gia vào việc bảo vệ mơi trường bằng chiến dịch gì? 4.3 Khi dạy bài “Hốn dụ” tơi sử dụg bài tập nhanh để vào bài: - Dùng bảng phụ cĩ sẵn các ví dụ. Các tấm thẻ cĩ chứa tên các biện pháp tu từ tương ứng ( riêng 4 ví dụ thì che lại ) - Trình bày bảng: yêu cầu học sinh lên chọn các tấm thẻ phù hợp gắn vào các ví dụ 1,2,3 từ đĩ nhắc lại các khái niệm so sánh, nhân hĩa, ẩn dụ. - Nội dung bảng phụ là: Các ví dụ Biện pháp tu từ 1. Cơ giáo như mẹ hiền So sánh 2. Thuyền về cĩ nhớ bến chăng Ẩn dụ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền 3. Hoa phượng khơng những là bạn thân của Nhân hĩa học trị mà cịn là sứ giả của mùa hè 4. Tơi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu ? Trái tim lầm chỗ để trên đầu - Sau khi học sinh gắn đúng ba tấm thẻ vào ba ví dụ, giáo viên mở ví dụ 4. Yêu cầu học sinh quan sát hỏi 7
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS - Dựa vào hiểu biết của em về các phép tu từ đã học, em cĩ thể xếp ví dụ 4 ở trên vào biện pháp tu từ nào khơng? Vì sao? - Học sinh tự bộc lộ. Giáo viên: trên cơ sở nhận thức của học sinh, giáo viên giới thiệu vào biện pháp tu từ hốn dụ, đặt vấn đề tìm hiểu, dẫn vào bài. Trên đây là một số minh họa cụ thể cho hình thức giới thiệu bài bằng phương pháp tích hợp. Việc linh hoạt các cách khởi động khác nhau trong từng bài dạy sẽ mang lại những hiệu quả tích cực. Học sinh được tham gia vào nội dung bài học ngay từ bước khởi đầu. Đĩ chính là một cách phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh bước đầu gợi trí tị mị, tìm hiểu và khám phá tri thức. 5. Giới thiệu bằng hình thức tổ chức trị chơi. Cĩ thể nĩi đây là hình thức giới thiệu địi hỏi người giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, từ khâu định hình trị chơi cho đến nội dung chuẩn bị sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất đối với bài dạy. Thực tế cho thấy đây là một bước vào bài khá ấn tượng, cĩ khả năng thu hút sự chú ý, gây hứng thú cao cho học sinh, đặc biật là lứa tuổi THCS khi tâm lý của các em vẫn cịn rất hồn nhiên, thích vui chơi thì việc tạo một” Sân chơi nhỏ” trong giờ học sẽ đen lại bao điều thú vị, giúp các em tập trung cao độ vào bài học. Hình thức tổ chức trị chơi khá đa dạng và phong phú: Giải ơ chữ, câu đố, hái hoa dân chủ đối với mơn Ngữ văn cĩ thể thực hiện một dạng như sau: a. Giải ơ chữ: Trị chơi này, tơi thực hiện trong việc giới thiệu bài Tiếng Việt “động từ” tiết 60 Ngữ văn 6. * Chuẩn bị Dùng bảng phụ cĩ chứa 6 hàng ngang với các ơ chữ đã được che khuất. - Mỗi hàng ngang chứa một động tư gồm: đi, cứu hộ,buồn, ghét,sứt,đứng. * Thực hiện Giới thiệu 6 hàng ngang. Hàng 1 gồm 2 ơ chữ Hàng 2 gồm 5 ơ chữ Hàng 3 gồm 4 ơ chữ Hàng 4 gồm 4 ơ chữ Hàng 5 gồm 3 ơ chữ Hàng 6 gồm 4 ơ chữ (Một từ khĩa ở hàng dọc) Lần lượt đặt các câu hỏi gợi ý để học sinh giải đốn từng ơ chữ hàng ngang (cĩ thể mở ơ bất kỳ để gợi ý thêm) chẳng hạn: - Hàng ngang 1. Một từ gồm 2 chư cái. Từ chỉ hoạt động của con người di chuyển bằng 2 chân? 8
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS - Hàng ngang 2. Hai từ gồm 5 chữ cái. Từ thường dùng để chỉ những lực lượng làm nhiệm vụ ở vùng lũ? - Hàng ngang 3. Một từ gồm 4 chữ cái. Đây là từ chỉ một trạng thái khơng vui? - Hàng ngang 4. một từ gồm 4 chữ cái. Từ trái nghĩa với yêu? - Hàng ngang 5. một từ gồm 5 chữ cái. Từ chỉ một vật khơng lành lặn? - Hàng ngang 6. một từ gồm 4 chữ cái. Từ chỉ sự vật khơng chuyển động? * Kết quả ơ chữ Đ I C Ứ U H Ộ B U Ồ N G H É T S Ứ T D Ừ N G Sau khi học sinh giải đúng ơ chữ và phát hiện từ khĩa Giáo viên tuyên dương, khen ngợi và chốt lại Tám hàng ngang trên là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật với những từ thuộc cùng một loại từ ấy, nĩ thể hiện ở từ khĩa. Hãy đọc từ in đậmột lần nữa. - Học sinh ghép đúng từ khĩa “ ĐỘNG TỪ” - Giáo viên dẫn dắt: Từ khĩa em vừa đọc cũng chính là tên bài học hơm nay. Vậy động từ là gì? Đặc điểm của động từ và phân loại động từ thế nào? bài học. b. Nghe thơng tin đốn tác giả: Trị chơi này địi hỏi giáo viên phải sưu tầm tranh, ảnh chân dung thật của các tác giả trong chương trình Ngữ văn bậc THCS thường xuyên cung cấp những tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của các tác giả. Viậc quan sát, xác định nhân vật cũng là một cách để học sinh nhớ lâu về tác giả. Để thực hiện trị chơi này, tơi sưu tầm ảnh chân dung một số tác giả cĩ cùng một giai đoạn sáng tác hoặc tác giả cĩ cùng trào lưu sáng tác để giới thiệu vào bài: “ Đập đá ở Cơn Lơn” Ngữ văn 8 Tơi dùng chân dung ba nhà thơ cách mạng Việt Nam: Tố Hữu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và tổ chức trị chơi như sau: - Treo hình chân dung lên bảng( đã che khuất mặt và tên) - Giới thiệu đây là ba nhà thơ cách mạng lớn của Việt Nam giai đoạn đấu thế kỷ XX và gợi ý các thơng tin liên quan đến tác giả. 9
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS * Tranh 1: + Là nhà thơ sinh năm 1920 mất năm 2002. + Là nhà cách mạng và nhà thơ lớn của thơ ca hiện đại Việt Nam + Tác phẩm nổi tiếng là: “ Lượm”. * Tranh 2: + Ong sinh năm 1867 mất năm 1940. + Là nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc Việt Nam. Trước kẻ thù luơn thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất của một người tù yêu nước anh hùng. + Tác phẩm đĩ cĩ tên là: “ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đơng” * Tranh 3: Đây là ai? Nếu học sinh khong xác định được, giáo viên dẫn dắt giới thiệu về Phan Châu Trinh và tác phẩm “Đập đá ở Cơn Lơn” dẫn vào bài. Hai dẫn chứng trên đã minh họa cho việc tổ chức trị chơi để dẫn dắt vào bài. Trong thực tế giáo viên cĩ thể sáng tạo ra nhiều trị chơi khác nhau để thực hiện tùy vào nội dung bài học, tất nhiên hiệu quả cịn tùy thuộc vào cách xây dựng và tổ chức của người thầy. Một trị chơi lơi cuốn cĩ trí tuệ và phù hợp sẽ đem lại một titế học vui, thoải mái, sinh dộng và thú vị. Kiến thức được người học lĩnh hội tự nhiên và sâu sắc. 6. Giới thiệu bằng hình thức kể chuyện, hát đối thoại. Đây là một hình thức vào bài mà giáo viên thường dùng thêm các phương tiện hỗ trợ như: băng, đĩa, phim ảnh đĩ cĩ thể là một bài hát cĩ chủ đề liên quan đến bài học, một đoạn phim ngắn cĩ nội dung của một cuộc hội thoại hay một câu chuyện nào đĩ cĩ đề tài hướng đến vấn đề chính mà giáo viên sẽ truyền đạt trong tiết học. Nĩi chung dùng cách kể chuyện, hát hoặc xây dựng đối thoại để dẫn dắt vào bài học là một hình thức giới thiệu sáng tạo của giáo viên. Hiệu quả đạt được chính là sự nhiệt tình của các em khi tham giavào việc giải quyết những câu hỏi hoặc tình huống mà giáo viên đặt ra đối với những điều mà chính mắt các em nhìn thấy, được nghe, giờ học sẽ trở nên thú vị, cĩ hiệu quả ngay với các em học sinh yếu thường xuyên khơng chú ý vào bài học. 6.1 Dùng hình thức kể chuyện. Khi dạy bài “ Treo biển” Ngữ văn 6 tiết 49 -Giáo viên kể câu chuyện “ Đẽo cày giữa đường” - Giáo viên hỏi học sinh nhận xét hành động của anh đẽo cày? ( anh ta nghe theo những lời gĩp ý một cách cĩ lập trường hay khơng? Tại sao bị gây cười? Dẫn dắt: Dù mới nghe qua những lời gĩp ý, anh đẽo cày đã vội làm theo một cách thiếu lập trường vẫn gây cười vì anh ta hành động khơng do dự, nghĩ suy và tính tốn theo chủ ý. Từ đĩ ta thấy, dù làm bất kỳ việc gì cũng cần giữ vững lập trường. Cân nhắc trước những lời gĩp ý, tiếp nhận nhưng phải suy xét thì mới cĩ hiệu quả bài học. 6.2 Dùng bài hát Đối với bài “ Những ngơi sao xa xơi” Ngữ văn 9 tiết 146 Giáo viên cĩ thể trình bày bài hát hoặc mở máy cassset bài “ Cơ gái mở đường” 10
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS Yêu cầu học sinh sau khi nghe bài hát rồi giáo viên đặt câu hỏi: - Trong chương trình ngữ văn, em đã học tác phẩm nào ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời, yêu những chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời chống Mỹ? - Ngồi ra, em cịn biết thêm những tác phẩm nào cùng đề tài này? Giáo viên nĩi chậm: Cùng ca ngợi sự hy sinh và tinh thần dũng cảm của những tâm hồn lạc quan , mơ mộng của các thanh niên xung phong hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ như bài: “ Tiểu đội xe khơng kính” nhưng đối với “ Những ngơi sao xa xơi” của Lê Minh Khuê, ta sẽ bắt ngặp một hình ảnh mới – hình ảnh những cơ gái thanh niên xung phong, những cơ trinh sát mặt đường, những cơ chuyên phá bom nổ chậm mở đường cho xe qua với những tâm hồn và tính cách vơ cùng đẹp đẽ. Vậy, ba vì sao xa xơi trên cao điểm Trường Sơn cĩ những nét đẹp nào. Thơng qua họ ta hiểu thêm điều gì về thế hệ thanh niên Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ dẫn vào bài. Tĩm lại: Để thực hiện phương pháp đổi mới trong giờ dạy, người giáo viên phải cĩ sự đầu tư kỹ lưỡng vào các khâu, các phần của bài học. Như tơi đã nĩi, một giờ học tốt, ngồi việc sử dung phương pháp phù hợp nhằm khai thác nội dung kiến thức thì việc tạo sự thu hút, lơi cuốn học sinh đến với tiết học cũng là một việc làm khơng kém phần quan trọng. Muốn người học cĩ một tâm thế tốt, háo hức say mê khám phá tri thức thì giáo viên phải biết tạo ra cách “ Mở màn” linh hoạt, đặc sắc cho bài dạy của mình. Trên đây là một số hình thức giới thiệu bài mà tơi đã sử dụng trong các tiết dạy và đã thực sự thu nhận kết quả ngồi mong đợi. Dù trong khuơn khổ một sáng kiến nhỏ nhưng tơi đã cố gắng trình bày một số hình thức giới thiệu cơ bản mà giáo viên cĩ thể áp dụng vào bài giảng với những minh họa cụ thể. Trong đĩ các hình thức giới thiệu đều dựa trên yêu cầu tích hợp kiến thức và tạo tính tích cực chủ động đến với bài học cho học sinh. Tất nhiên ngồi những hình thức giới thiệu trên vẫn cịn rất nhiều cách dẫn dắt vào bài khác. Bản thân tơi sẽ cố gắng tiếp tục xây dựng từng ngày khi cịn trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ mơn Ngữ văn này, rất mong được sự nhận xét, gĩp ý của đồng nghiệp gần xa. C. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG ĐỀ TÀI Khi thực hiện đề tài này, kết quả mà tơi thu nhận được được ngay trong tiết dạy chính là sự hứng thú của học sinh khi tham gia vào giờ học. Bằng một số trị chơi, một câu chuyện, một lời thuyết trình ấn tượng, người giáo viên đã tạo nên bầu khơng khí sinh động cho bài dạy và được sự hưởng ứng nhiệt tình của người học, đem đến những giờ học văn nhiều thú vị, màu sắc. Qua cái nhìn thực tế học sinh của tơi dường như yêu văn hơn, hạn chế được những giờ học uể oải, những ánh mắt gà gật trong tiết học, đặc biệt đối với học sinh yếu kém. học văn của học sinh khi tơi sử dụng đề tài này. Đĩ là một dấu hiệu đáng mừng cho việc cải thiện phương pháp dạy mơn Ngữ văn hiện nay. Ngồi ra sáng kiến này đã được tơi trình bày trước tổ và đã được các đồng nghiệp áp dụng vào các khối, cũng giới thiệu theo dạng này và đạt được kết quả D. KẾT LUẬN Đổi mới cả một nền giáo dục khơng phải chuyện ngày một ngày hai. Sử dụng phương pháp dạy học mới để đạt kết quả cao khơng phải là một đề tài đơn giản. 11
- Một số hình thức giới thiệu bài đối với môn Ngữ văn khối THCS Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, tơi luơn ý thức rõ điều này nên luơn cố gắng hồn thiện từng ngày. Một lần nữa qua đề tài này tơi mong nhận được sự đĩng gĩp chân tình của, của bạn bè đồng nghiệp gần xa-những người luơn cùng hướng đi trong sư nghiệp trồng người. Người thực hiện Nguyễn Thị Danh 12

