Đề thi chọn học sinh giỏi THCS cấp Huyện môn Ngữ văn - Năm học 2018-2019 - PGD An Phú (Có đáp án)

doc 6 trang TrangDY 10/05/2026 1150
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi THCS cấp Huyện môn Ngữ văn - Năm học 2018-2019 - PGD An Phú (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docde_thi_chon_hoc_sinh_gioi_thcs_cap_huyen_mon_ngu_van_nam_hoc.doc

Nội dung tài liệu: Đề thi chọn học sinh giỏi THCS cấp Huyện môn Ngữ văn - Năm học 2018-2019 - PGD An Phú (Có đáp án)

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI THCS CẤP HUYỆN HUYỆN AN PHÚ Năm học 2018 - 2019 Khóa ngày: 19 - 01 - 2019 ĐỀ CHÍNH THỨC (Gồm có 2 trang) Thời gian làm bài: 150 phút (Không kể thời gian phát đề) Số báo danh: Phòng: .. ĐỀ BÀI: Câu 1. (8 điểm) Nói về cách xử thế giữa người và người, thế hệ trước thường có nhiều lời khuyên, như: - Lời chào cao hơn mâm cỗ. - Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. - Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe. Trình bày suy nghĩ của em về những lời khuyên trên. Câu 2. (12 điểm) Thế giới hiện thực và mộng tưởng qua phần trích truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen: Chà ! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ ? Cuối cùng em cũng đánh liều quẹt một que... Em hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Chà ! Ánh sáng kì dị làm sao ! Em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng... Em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất. Em ngồi đó, tay cầm que diêm đã tàn hẳn. Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em đi bán diêm. Đêm nay về nhà thế nào cũng bị cha mắng. Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay... Rồi... que diêm vụt tắt ; trước mặt em chỉ còn là những bức tường dày đặc và lạnh lẽo. 1
  2. Thực tế đã thay thế cho mộng tưởng ; chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, mà chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm. Em quẹt que diêm thứ ba. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en. Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi... Em với đôi tay về phía cây... nhưng diêm tắt. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Em quẹt que diêm nữa vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em. - Bà ơi ! Em bé reo lên, cho cháu đi với ! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này;... Que diêm tắt phụt, và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biến mất. Thế là em quẹt tất cả que diêm còn lại trong bao. Em muốn níu bà em lại ! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa... (Ngữ văn 8, Tập một, NXB Giáo dục 2004, trang 64 - 67) -------------------------- Hết -------------------------- 2
  3. HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN KỲ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2018 - 2019 ----------------------------- A. HƯỚNG DẪN CHUNG 1. Về kiến thức: có vốn kiến thức cơ bản về cuộc sống, xã hội và kiến thức về tác phẩm văn học nêu ra trong đề bài. 2. Về kỹ năng: có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, trên cơ sở làm tốt các yêu cầu của một bài văn nghị luận. Bài viết thể hiện được năng lực tiếp nhận và cảm thụ tốt một vấn đề xã hội, tác phẩm văn học; năng lực phân tích và tổng hợp; năng lực diễn đạt và trình bày; năng lực tư duy, sáng tạo. Bài viết có cảm xúc, nội dung thuyết phục, có chất văn. 3. Cách chấm và điểm số - Giám khảo cho điểm có thể lẻ đến 0,5 điểm. - Yêu cầu về nội dung và chuẩn cho điểm chỉ nêu lên những nét cơ bản. Thí sinh có thể nêu những ý mới, theo một dàn ý khác, nếu hợp lý thì vẫn chấp nhận và vận dụng biểu điểm để đánh giá. - Cần đặc biệt chú ý đối với các bài có nhiều sáng tạo thể hiện ở: cách đặt vấn đề, cách lập luận chặt chẽ; biết vận dụng lý luận văn học tăng tính thuyết phục trong bài viết; có ý phát hiện mới, hay... Đối với những bài như thế, giám khảo cần mạnh dạn cho thêm điểm khuyến khích từ 1.0 – 2.0 điểm/mỗi sáng tạo (nhưng không quá điểm toàn câu). B. NHỮNG YÊU CẦU CỤ THỂ Câu 1. I. NỘI DUNG Thí sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau, trên cơ sở giải quyết được yêu cầu của đề. 1. Đặt vấn đề : Nêu được vấn đề cần nghị luận: Phép ứng xử trong giao tiếp trong xã hội. 2. Giải quyết vấn đề 2.1. Giải thích - Giải thích từ ngữ: + Lời chào: chào hỏi ban đầu khi gặp gỡ hoặc bắt đầu giao tiếp. + Mâm cỗ: mâm giỗ, bữa ăn giỗ hoặc tiệc, với nhiều thức ăn ngon. + Khôn: người biết xử sự một cách có lợi nhất. + Tiếng rảnh rang: tiếng hót êm tai, dễ nghe. - Giải thích luận đề: Để giao tiếp tốt đẹp, mỗi người cần chú ý chào hỏi, dùng lời lẽ nhã nhặn, lịch sự. 3
  4. 2.2. Bình luận 2.2.1. Bình Đánh giá tính đúng đắn của luận đề. 2.2.2. Luận [1] Gặp nhau, khởi đầu cuộc giao tiếp (câu 1) - Phép lịch sự xã giao, đầu tiên cần có lời chào hỏi. - Lời chào hỏi tạo tâm lí dễ chịu đến người đối diện, khởi đầu tốt đẹp cuộc giao tiếp. - Lời chào hỏi biểu hiện sự tôn trọng người đối diện, chứng tỏ người nói có văn hóa. Từ đó dẫn đến thuận lợi cho cuộc giao tiếp. [2] Trong quá trình giao tiếp (câu 2, 3) - Lời nói cần phải lựa để không mất lòng, xúc phạm người khác. Và việc lựa lời ấy không khó, bởi không mất tiền mua. - Lời nói mà người khác cảm thấy dễ nghe, chứng tỏ người nói là người biết xử sự khôn ngoan. Bởi từ chỗ dễ nghe sẽ dẫn đến cuộc giao tiếp thuận lợi, thành công. - Hai câu ca dao khuyên mọi người không nên ăn nói tùy tiện hoặc hơn thua nhau trong lời nói. - Phê phán những người không biết phép lịch sự trong giao tiếp... - Dẫn chứng minh họa (từ những con người/sự việc cụ thể). 3. Kết thúc thúc đề - Đánh giá khái quát vấn đề. - Bài học nhận thức và hành động của bản thân Lưu ý: Trong bài viết, thí sinh trình bày được nghệ thuật (so sánh; tư duy hình tượng; cô đọng, súc tích; ), giám khảo cho thêm điểm sáng tạo (nhưng không được quá điểm của toàn câu). II. MỘT SỐ MỨC ĐIỂM ĐỂ CHẤM Điểm 8: - Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên. Có thể còn một vài thiếu sót nhỏ nhưng lại có được những ý có ý nghĩa sáng tạo. Điểm 6: - Trình bày được khoảng 2/3 ý đã nêu ở phần trên. - Về Về hình thức và phương pháp (HT-PP) : Văn viết khá trôi chảy ; diễn đạt sáng sủa ; còn mắc vài lỗi diễn đạt. Điểm 4: - Trình bày được khoảng nửa số ý đã nêu ở phần trên. - Về HT-PP : Văn viết khá trôi chảy. Còn mắc vài lỗi diễn đạt. Điểm 2: - Trình bày được khoảng 1/3 số ý đã nêu ở phần trên. - Về HT-PP : Diễn đạt thiếu mạch lạc ; mắc nhiều lỗi chính tả. Điểm 1: - Nội dung trình bày còn sơ sài, nhưng không sai lệch. - Về HT-PP : Diễn đạt không hệ thống ; mắc nhiều lỗi chính tả. 4
  5. Câu 2. I. NỘI DUNG Trên cơ sở hiểu biết về truyện ngắn Cô bé bán diêm và nhà văn An-đéc-xen, thí sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau trên cơ sở giải quyết được yêu cầu của đề. 1. Đặt vấn đề: Nêu được vấn đề cần nghị luận: Hiện thực và mộng tưởng qua phần trích truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen 2. Giải quyết vấn đề a/. Nội dung a/.1. Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm, văn bản trích. Lược thuật diễn biến câu chuyện từ đầu đến vị trí văn bản trích. a/.2. Thế giới hiện thực - Hình ảnh một em bé bán diêm khốn khổ (giá lạnh, đói, thiếu tình thương) giữa đêm đông rét mướt, cô đơn giữa không khí khấp khởi vui đón lễ giáng sinh của mọi người. - Bởi không bán được bao diêm nào nên em không dám về nhà, còn lại đánh liều quẹt cháy một que diêm, hai que diêm, đến cả bao diêm. - Mỗi lần que diêm cháy lên, em lại mơ thấy một thứ em cần. Đó là do ảo giác tạo ra từ cơn đói, rét - Cuối cùng, em từ giã cõi đời bởi cái cái rét, cái đói, đó. a/.3. Thế giới mộng tưởng - Là những ước mơ hoàn toàn đối lập với thực tại. - Mỗi que diêm cháy lên gắn liền với mộng tưởng về một thứ em cần theo thứ tự lô-gíc với thực tại của em: 1. mơ thấy lò sưởi, do lạnh, rét; 2. mơ thấy ngỗng quay, do đói; 3. mơ thấy cây thông nô-en, do sắp đến giờ phút thiêng liêng giáng sinh; 4. mơ thấy bà, do cô đơn, cần tình thương. b. Nghệ thuật - Cấu trúc câu chuyện: hiện thực – mộng tưởng – hiện thực. - Cách sắp đặt thứ tự mộng tưởng lô-gíc. - Kết thúc câu chuyện không nặng nề, quá bi thương như bi kịch của em. 3. Kết thúc vấn đề: Đánh giá chung về giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm và tài nghệ nhà văn. II. MỘT SỐ MỨC ĐIỂM ĐỂ CHẤM Điểm 12: - Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên. Có thể còn một vài thiếu sót nhỏ nhưng lại có được những ý có ý nghĩa sáng tạo. - Bài viết hay, có cảm xúc. Điểm 10: - Đáp ứng được những yêu cầu nêu trên. Có thể chưa thật đủ ý nhưng bài viết đã làm nổi bật được vấn đề theo yêu cầu. - Bài viết hay, có cảm xúc. 5
  6. Điểm 8: - Về nội dung: Bài viết thể hiện được nội dung luận đề, có được khoảng 2/3 số ý đã nêu ở phần trên. - Về HT-PP: Văn viết trôi chảy; diễn đạt sáng sủa; còn mắc vài lỗi chính tả. Bài viết có cảm xúc. Điểm 6: - Về nội dung: Bài viết thể hiện được nội dung yêu cầu, có được khoảng hơn nửa số ý đã nêu ở phần trên. - Về HT-PP: Văn viết khá trôi chảy. Còn mắc vài lỗi diễn đạt. Điểm 4: - Về nội dung: Bài viết cơ bản thể hiện được nội dung yêu cầu, có được khoảng 1/3 số ý đã nêu ở phần trên. - Về HT-PP: Biết phân tích nhưng ở một số chỗ còn diễn xuôi. Văn viết chưa hay nhưng đúng ý, không mắc nhiều lỗi diễn đạt. Điểm 2: - Về nội dung: Xác định đúng yêu cầu đề, song các ý trình bày còn sơ sài. - Về HT-PP: Có ý thức trong việc trình bày bố cục bài viết nhưng chưa được rõ ràng; diễn đạt thiếu mạch lạc, lô gíc. Điểm 0: Bài bỏ giấy trắng hoặc nội dung bài viết không dính dấp gì đến luận đề./. 6