Chuyên đề Phương pháp góp phần nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết học Địa lí ở trường THPT Nguyễn Huệ
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Phương pháp góp phần nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết học Địa lí ở trường THPT Nguyễn Huệ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
chuyen_de_phuong_phap_gop_phan_nang_cao_hieu_qua_va_hung_thu.doc
Nội dung tài liệu: Chuyên đề Phương pháp góp phần nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh trong các tiết học Địa lí ở trường THPT Nguyễn Huệ
- CHUYÊN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG CÁC TIẾT HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN HUỆ I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CHỌN ĐỀ TÀI. 1) Cơ sở lí luận. Trong sách Bách khoa sư phạm, Makarenko viết “Nếu người ta không thấy cái gì vui tươi thì người ta không thể sống ở trên đời. Sự kích thích chân chính của cuộc sống ở mỗi con người là sự vui sướng của ngày mai. Sự hứng thú, niềm say mê có được đó chính là đối tượng hướng đến của kỹ thuật sư phạm ” Trong điều 28 - Luật Giáo dục nêu rõ “Phương pháp giáo dục & đào tạo phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh...nhằm bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Như vậy, để tiết dạy có hiệu quả, thu hút sự chú ý của học sinh thì mỗi giáo viên luôn phải có phương pháp giảng dạy hợp lí, vận dụng sáng tạo kĩ thuật sư phạm vào bài giảng của mình. Thông qua đó giúp học sinh nắm bài nhanh, có nhiều ấn tượng đọng lại sau mỗi bài học, cũng vì thế sẽ giúp các em ghi nhớ và phân loại kiến thức một cách rõ ràng, mạch lạc, tránh được sự nhầm lẫn, lạc đề khi làm bài tập, thi, kiểm tra. Do đó, người giáo viên trong quá trình đứng lớp phải luôn chú ý rèn luyện và phát huy được năng lực tư duy cho học sinh trong quá trình học tập, không chỉ dừng lại ở việc dạy cái gì mà là dạy như thế nào để học sinh có suy nghĩ độc lập, sáng tạo, có khả năng tư duy nhanh, hiệu quả cao. Bởi vậy mục đích chính trong đề tài là tạo ra hứng thú và sự say mê cho người học, điều mà mỗi người giáo viên luôn mong muốn có được trong quá trình lên lớp. Qua đó rèn luyện cho học sinh kĩ năng ghi nhớ kiến thức, tăng khả năng thực hành, kết hợp nhuần nhuyễn lí thuyết với thực hành, gắn liền lí luận với thực tiễn sinh động vì “Lí luận không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông, thực tiễn mà không có lí luận là thực tiễn mù quáng ” 2) Cơ sở thực tiễn: Đặc trưng chung khi học các môn học xã hội nói chung và bộ môn Địa lí nói riêng thường nặng về lí thuyết, học sinh trong quá trình học phải ghi nhớ một hệ thống kiến thức lớn, nhiều sự kiện, nội dung kiến thức đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Người giáo viên trong quá trình đứng lớp thường phải truyền thụ một khối lượng kiến thức lớn, trong đó có nhiều mảng kiến thức trừu tượng, nội dung khó nên muốn học sinh hiểu giáo viên dễ dẫn đến tình trạng giảng giải,
- nặng về thuyết trình, ôm đồm kiến thức. Từ đặc trưng trên thường dẫn đến các thực trạng như: - Trong tiết dạy giáo viên làm việc nhiều. - Bài giảng ít sự kiện, nghèo cảm xúc nhưng nhiều thống kê, số liệu... dẫn đến tiết học khô khan, thiếu sự kết dính và liền mạch giữa các phần đề mục. - Học sinh dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, thiếu tập trung, thụ động trong lĩnh hội tri thức. - Lớp học thường xảy ra tình trạng mất trật tự, nói chuyện riêng nếu giáo viên tập trung vào thuyết giảng nhiều mà không nhắc nhở, phản hồi hai chiều. - Ít nhiều trong tư tưởng học sinh ăn sâu quan điểm so đo những môn phụ, môn chính mà sao nhãng việc tập trung chú ý nghe giảng trong quá trình học tập. Trên thực tế, quá trình giảng dạy môn Địa lí ở trường phổ thông, tôi nhận thấy “Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả và hứng thú cho học sinh trong các tiết học Địa Lí ở trường THPT” là một giải pháp tương đối hữu ích cho bản thân để hạn chế và khắc phục dần những tồn tại nêu trên. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP 1) Tiến hành phân loại học sinh: a) Mục đích: Nhằm tiếp cận có hiệu quả nhất với tất cả các đối tượng học sinh, khắc phục được lối dạy sáo mòn dùng một loại giáo án duy nhất cho tất cả các lớp, các nhóm học sinh khác nhau. b) Cách thức tiến hành: Giáo viên sau khi nhận phân công đứng lớp, tiến hành tìm hiểu và phân loại sự khác nhau về học lực, hướng nghiệp, đặc điểm, xu hướng phát triển của từng lớp để xây dựng từng loại giáo án phù hợp: Ví dụ: - Tuy nhiên trong các lớp của khối 12 nêu trên có sự khác biệt về học lực, khối thi đại học, hướng nghiệp, nề nếp... do vậy tùy vào mức độ nhận thức, nhu cầu học tập và đặc trưng riêng biệt của từng lớp để có các phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm đạt hiệu quả và hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập. - Ngoài sự phân loại các nhóm lớp khác nhau, giáo viên cũng cần chú ý phân loại được học lực của học sinh trong một lớp ở một mức độ nhất định, để qua đó giúp giáo viên tiếp cận các em một cách hiệu quả hơn. - Quá trình phân loại lớp và xây dựng giáo án của khối 12 có kết quả như sau: Lớp Đặc điểm Phương hướng xây dựng giáo án
- 12C1 Lớp chọn ban khoa Bài giảng cần được đầu tư chuyên sâu, chú học xã hội, học lực trọng định hướng ôn thi đại học, cao đẳng khá, chăm học, ý cho học sinh. thức tự giác cao. Ngoài việc hình thành các kĩ năng chung như làm việc với bảng số liệu thống kê, bản đồ, phân tích, đánh giá, tìm ra các mối quan hệ, thì giáo viên đặc biệt chú ý đến việc hình thành các kĩ năng như: kĩ năng nhận dạng, phân loại đề thi, phương pháp làm bài, các kĩ năng ghi nhớ kiến thức... - Định hướng bài dạy theo ban cơ bản, đảm 12A Lớp chọn ban khoa bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng. học tự nhiên, học lực khá, chăm học, Tuy nhiên, giáo viên cần chú ý tăng cường ý thức tự giác cao. các câu hỏi mang tính sáng tạo, thông minh để lôi cuốn các em, vì đây là những đối tượng học sinh khá, thích khám phá, tìm hiểu, rất hứng thú với các dạng câu hỏi phức tạp, đòi hỏi những hiểu biết nhất định và khả năng tư duy nhạy bén. Lớp học đại trà, - Định hướng bài dạy theo ban cơ bản, 12C chọn ban khoa học đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng. khác xã hội, chủ yếu là - Ngôn ngữ giáo viên sử dụng nên ngắn thi học sinh có học gọn, súc tích, trình bày một cách dễ hiểu ban lực trung bình. Bên nhất. khoa cạnh đó còn tồn tại học một số học sinh - Xây dựng không khí lớp học gần gũi, xã cá biệt, thường thân thiện, thoải mái, giảm áp lực cho các hội hay bỏ giờ, trốn em. tiết, không soạn - Giáo viên chú ý định hướng và bồi dưỡng bài, hay ngủ gật kết hợp, thêm bài tập về nhà cho các em trong lớp. kèm theo hướng dẫn làm bài. - Những học sinh cá biệt giáo viên cần quan tâm: Số buổi nghỉ của học sinh ở bộ môn mình dạy, các cột điểm kiểm tra thường xuyên, định kì... - Trong quá trình dạy cần hướng đến sự chú ý,quan tâm đặc biệt thông qua các câu hỏi mang tính khích lệ và ưu tiên như thưởng điểm, khen ngợi, động viên kịp thời...tránh các thái độ đe dọa, xúc phạm học sinh trong quá trình đứng lớp.
- - Kết hợp thường xuyên với giáo viên chủ nhiệm để việc giáo dục đạt hiệu quả khả quan hơn. Để phương pháp trên thành công mỗi người giáo viên cũng cần có thêm trách nhiệm, tình yêu thương học sinh, sự kiên trì và lòng nhẫn nại...thì tin chắc rằng các em học sinh sẽ sẵn sàng hợp tác và tiến bộ. 2) Thống nhất phương pháp giảng dạy trong tổ chuyên môn: a) Mục đích: - Nhằm tạo ra sự đồng nhất và phát huy triệt để các phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập của học sinh. - Hạn chế được một số bài dạy sai phương pháp, kém hiệu quả, tạo sự đoàn kết thống nhất giữa các thành viên trong tổ chuyên môn. b) Cách thức tiến hành: + Tổ chuyên môn tiến hành hệ thống các tiết dạy của ba khối trong thời gian của tuần kế tiếp, lấy ý kiến đề xuất về phương pháp giảng dạy của tất cả các thành viên trong từng tiết cụ thể. + Tiến hành thảo luận các phương pháp đã được đề xuất, nêu được các ưu – nhược điểm của từng phương pháp, sau đó đi đến lựa chọn những phương pháp hiệu quả và hợp lí nhất. + Tất cả giáo viên tiến hành xây dựng, thiết kế giáo án khung cho từng tiết cụ thể. + Giáo viên đứng lớp tiếp tục hoàn thiện giáo án của mình dựa trên giáo án khung của tổ đã thống nhất. + Để khẳng định tính thực tiễn, thăm dò hiệu quả đạt được của các phương pháp đã xây dựng, tổ chuyên môn tiến hành dự giờ một số tiết dạy mẫu của ba khối, sau đó tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm các tiết dạy mẫu, thao giảng (các tiết dạy của giáo viên có thể kết hợp để đánh giá chất lượng chuyên môn định kì, sử dụng các kết quả có được để tính cho các tiết thao giảng bắt buộc trong năm học). Tuy nhiên, mỗi người có một thế mạnh nhất định nên tùy thuộc vào các phương pháp đã được thống nhất để chọn cho mình những cách thức phù hợp với năng lực và sở trường của bản thân, việc áp dụng mang tính linh hoạt, tránh cứng nhắc, áp đặt sẽ dẫn đến tác dụng ngược, chất lượng bài giảng đạt hiệu quả thấp. => Sự phát huy triệt để vai trò của sinh hoạt tổ chuyên môn định kì sẽ dần dần
- nâng cao được chất lượng các bài giảng của từng thành viên, qua đó có vai trò thúc đẩy được hứng thú và lòng say mê học tập của học sinh trong các tiết học Địa lí. Ví dụ: Thảo luận phương pháp dạy: Bài 16: Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cư ở nước ta.- Địa lí 12. Sau quá trình trao đổi, bàn bạc đã đi đến thống nhất chọn phương pháp sử dụng hệ thống bảng số liệu, bản đồ, biểu đồ, Atlat, các phương tiện trực quan để khai thác kiến thức với giáo án khung như sau: Mục 1: Đông dân, có nhiều thành phần dân tộc: - Sử dụng bảng số liệu dân số các quốc gia trên thế giới cho học sinh so sánh: TT Quốc gia Số dân (triệu người) 1 Trung Quốc 1303.7 2 Ấn Độ 1103.6 3 Mỹ 296.5 4 Indonesia 221.9 5 Brazin 184.2 6 Pakistan 162.4 7 Băng la đét 144.2 8 Nga 143 9 Nigieria 131.5 10 Nhật Bản 127.7 11 Mêhicô 107 12 Philippin 84.8 13 Việt Nam 83.3 Qua bảng số liệu trên học sinh sẽ rút ra đặc điểm: dân số nước ta đông, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 13 trong số gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. - Sử dụng Atlat trang 16: Dân tộc => rút ra đặc điểm nước ta có nhiều thành phần dân tộc (gồm 54 dân tộc) sống ở khắp các vùng lãnh thổ của đất nước. - Sử dụng bảng số liệu về cơ cấu dân số theo nhóm tuổi nước ta năm 1999 và 2005 (Đơn vị: %) Độ tuổi 1999 2005 0 – 14 33,5 27,0 15 – 59 58,4 64,0 Trên 60 8,1 9,0 - Kết hợp các biểu đồ gia tăng dân số các năm trong Atlat trang 15...=> Rút ra các đặc điểm còn lại của dân số nước ta như có cơ cấu dân số trẻ, nhưng có sự
- biến đổi qua các thời kì - Bằng hệ thống bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ, giáo viên tiếp tục xây dựng giáo án hoàn thiện cho các mục còn lại. - Giáo viên sử dụng kết hợp phương pháp dẫn dắt, giảng giải giúp học sinh rút ra được những thuận lợi, khó khăn của đặc điểm dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. 3) Một số kĩ năng lôi cuốn sự tập trung chú ý của học sinh trong các tiết học: a) Mục đích: - Thông qua kĩ năng vận dụng một số tình huống và nghệ thuật sư phạm để kích thích sự tập trung chú ý của học sinh về phía giáo viên, qua đó giúp các em tiếp thu bài hiệu quả, giảm tình trạng nói chuyện riêng, mất tập trung trong quá trình học tập. - Nếu vận dụng tốt người giáo viên sẽ xoay chuyển được từ tình thế ép học sinh nghe giảng một cách thụ động sang trạng thái háo hức, tích cực và tự giác học bài. - Sự tập trung chú ý của học sinh trong một tiết học khác biệt với mức độ tập trung trong chốc lát, muốn duy trì được quá trình đó trong suốt 45 phút người giáo viên cần vận dụng không ít các kĩ năng và biện pháp khéo léo để tạo ra sự tự giác thay vì câu nói: “Các em giữ trật tự để nghe giảng”... b) Cách thức tiến hành: Giáo viên sử dụng một số hình ảnh, sự kiện, các câu chuyện ngắn gọn, mang ấn tượng sâu sắc đến bài học để dẫn dắt và cuốn hút học sinh trong quá trình lên lớp, thông qua đó hình thành các dấu hiệu để ghi nhớ kiến thức một cách khoa học và bền vững, tránh lối học vẹt, học thuộc lòng nhanh nhớ, chóng quên. c) Các biện pháp cụ thể : * Sử dụng sự kiện: - Cách thức: + Giáo viên thu thập các sự kiện có liên quan trực tiếp đến bài dạy. + Sự kiện mang tính thời sự, cập nhật và điển hình trên các phương tiện thông tin đại chúng. + Sử dụng sự kiện để nêu vấn đề, đặt ra các câu hỏi dẫn dắt đến nội dung bài học, yêu cầu học sinh phải giải quyết để tìm ra kiến thức. - Ví dụ: Trong bài 15 - Địa Lí 12:“Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai”, để khắc họa cho học sinh thực trạng về môi trường nước ta, giáo viên sử dụng các sự kiện, thông tin thời sự cập nhật về nạn ô nhiễm hiện nay như: + Vụ công ty Vedan (Long Thành - Đồng Nai) sau một thời gian rất dài xả chất thải ô nhiễm ra sông Thị Vải đã bị Cục Cảnh sát môi trường, Bộ Công an
- phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam phát hiện ngày 13/09/2008. Các cơ quan điều tra đã kết luận: “Các hành vi vi phạm cố ý xả trực tiếp dịch thải sau lên men của Công ty Vedan ra sông Thị Vải mang tính hệ thống, có tổ chức và kéo dài, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đối với sông Thị Vải”. + Vụ công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái (Thanh Hóa) chôn thuốc trừ sâu tại khu vực dân cư sinh sống được phát hiện vào tháng 8-2013, với những mẫu kiểm tra tại khu vực ô nhiễm có chỉ tiêu vượt ngưỡng cho phép 10.000 lần. Căn cứ vào Thông tư 04 của bộ Tài nguyên Môi trường ngày 8/5/2012, UBND tỉnh Thanh Hoá kết luận công ty Nicotex Thanh Thái là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lí nghiêm khắc. + Ở tỉnh Bình Phước cũng đã phát hiện nhiều nhà máy chế biến mủ cao su trên địa bàn các huyện, thị như: Phước Long, Đồng Phú, Chơn Thành... xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra giáo viên đưa thêm một số chỉ tiêu, số liệu về mức độ ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ô nhiễm nguồn nước ở một số con sông Đuống, sông Cầu... Yêu cầu học sinh đánh giá, nhận xét sau khi nắm bắt được một số thông tin giáo viên vừa cung cấp, rút ra những nội dung chính của bài học. Các sự kiện mang tính cập nhật thời sự sẽ có tác dụng thu hút sự chú ý của học sinh, giúp các em đi đến gần với thực tiễn cuộc sống, tăng mức độ cảnh báo, mang tính giáo dục cao hơn. Các sự kiện đồng thời cũng là dấu hiệu chính để hình thành kĩ năng ghi nhớ kiến thức bài học (ví dụ khi đặt câu hỏi các vấn đề hiện nay của môi trường nước ta, học sinh sẽ liên tưởng đến các sự kiện về Công ty Vedan, Nicotex Thanh Thái, gợi nhớ lại thực trạng môi trường nước ta). * Sử dụng biện pháp sưu tầm hình ảnh, số liệu, tư liệu thống kê : Ví dụ: Trong bài 5-Tiết 1-Địa Lí 11: “Một số vấn đề của châu Phi” Với cách dạy thông thường thì giáo viên lần lượt giảng các mục theo kết cấu chương trình, đặt ra các câu hỏi phát vấn, học sinh dựa vào sách giáo khoa trả lời, nếu là giáo án điện tử thì giáo viên trình chiếu các hình ảnh về tự nhiên, dân cư, xã hội Châu Phi để minh họa cho bài học. Theo phương pháp này các thông tin của bài học hầu hết đều do giáo viên đưa ra, học sinh chủ yếu là đối tượng tiếp nhận thông tin, hoạt động dạy học hai chiều thiên lệch về phía giáo viên, người học dễ rơi vào trạng thái bị động trong nắm bắt kiến thức. => Phương pháp sử dụng hệ thống hình ảnh, số liệu, tư liệu: Bước 1: Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh từ tiết trước: tiến hành sưu tầm các hình ảnh, số liệu, tư liệu... về tự nhiên, kinh tế, xã hội của Châu Phi. Bước 2: Mở đầu tiết học, lần lượt cho các em sắp xếp các hình ảnh, tài
- liệu.. theo nhóm tự nhiên, kinh tế, xã hội lên bảng... • Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào các tài liệu vừa thu thập lần lượt rút ra các nhận xét của em về Châu Phi? • Kết quả thu được từ học sinh: Hệ thống hình ảnh, tài liệu... Kiến thức mang lại - Các hình ảnh về tài nguyên - Châu Phi giàu tài nguyên khoáng sản khoáng sản: vàng, kim cương, dầu mỏ, bôxit, đồng... - Hình ảnh về xavan, hệ thống - Cảnh quan sinh vật đa dạng, giàu có. động, thực vật hoang dã giàu có, đa dạng: trâu, bò rừng, linh dương, hổ báo, nai hoẵng... - Hình ảnh về hoang mạc rộng lớn, - Thiên nhiên nhiều thử thách, khí hậu khô cằn, thiếu nước. khô nóng, khắc nghiệt. - Hình ảnh về người dân da đen to - Nguồn lao động có tiềm năng lớn. khỏe, vạm vỡ.. - Hình ảnh về những thân người - Chất lượng cuộc sống thấp, đói gầy đói la liệt khắp các nẻo đường. nghèo, bệnh tật... - Các bảng số liệu thống kê, các tư - Thể hiện được nguyên nhân, thực trạng liệu , bài viết... của nền kinh tế - xã hội châu Phi... Từ kết quả bao quát ban đầu của học sinh, giáo viên kết hợp với các tư liệu, số liệu thống kê...dẫn dắt các em khai thác kiến thức bài học một cách có hệ thống, những kết quả trên của học sinh giống như chìa khóa, còn giáo viên như người dẫn đường, sự kết hợp của thầy và trò trong quá trình đi tìm kiến thức diễn ra dựa trên sự sắp xếp lôgic của sự vật - hiện tượng, thông qua các mối quan hệ nhân quả, các quy luật của tự nhiên, kinh tế - xã hội. Sự khác biệt của phương pháp khai thác phương tiện trực quan so với các phương pháp truyền thống là: • Khiến cho học sinh có ý thức chuẩn bị tốt cho bài học (sưu tầm tranh ảnh, tài liệu ở nhà). • Đến lớp với thái độ sẵn sàng hợp tác (do sự níu kéo bởi chính sản phẩm các em đưa đến). • Không khí lớp học diễn ra dân chủ, tự giác, không ép buộc, không miễn cưỡng. • Kiến thức lĩnh hội được phần lớn là do thành quả lao động của các em, hoạt động dạy học hai chiều lúc này nghiêng nhiều về phía học sinh, đó cũng là mục đích chính trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, phương pháp
- lấy học sinh làm trung tâm, là chủ thể nhận thức trong quá trình học tập. Lưu ý: Với sự phát triển của công nghệ truyền thông hiện nay việc sưu tầm tranh ảnh, tư liệu... đối với học sinh là hết sức thuận lợi; Tuy nhiên giáo viên cần định hướng trước các loại tư liệu cần sưu tầm cho học sinh hiểu nhằm giảm những hình ảnh không đúng mục đích đối với bài học. Có thể sẽ có những học sinh không hợp tác, giáo viên cần nhắc nhở kịp thời, rút kinh nghiệm cho các bài sau. Khuyến khích bằng điểm thưởng cho những học sinh có tranh ảnh, tài liệu chất lượng tốt và hoạt động hiệu quả trong tiết học. Giáo viên có thể lồng ghép chia lớp thành các đội chơi để tạo thêm không khí hào hứng cho lớp học. * Sử dụng các câu chuyện, lời dẫn, cách đặt vấn đề có ấn tượng sâu sắc: - Mục đích: Thông qua các câu chuyện ngắn gọn, các lời dẫn ấn tượng, sẽ nhanh chóng lôi cuốn được sự tập trung chú ý của học sinh, đó cũng là những hình ảnh sâu sắc dễ dàng nhớ lại mỗi khi nhắc đến nội dung của tiết học, qua đó tạo cơ sở hình thành các kĩ năng ghi nhớ kiến thức trong quá trình học tập cho học sinh. Ví dụ: Trong bài 9 - Nhật Bản – Tiết 1- Địa Lí 11- Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế. • Cách đặt vấn đề, nêu lời dẫn ấn tượng nhằm lôi cuốn sự chú ý ban đầu của học sinh: Mở đầu tiết học giáo viên nêu vấn đề: Các em biết đến đất nước Nhật Bản qua những biểu tượng nào? Học sinh phấn khích nói lên những ấn tượng của mình (được biết đến bởi các biểu tượng “Mặt trời mọc”, “xứ sở của hoa anh đào”, “ núi Phú Sĩ ”, các môn võ, ). Giáo viên đặt vấn đề sâu sắc hơn để lôi cuốn thêm: Vậy đã bao giờ các em nghe đến những nghịch lí của đất nước Nhật Bản chưa? Đó là nghịch lí về một đất nước nghèo tài nguyên, nhiều thiên tai-nhưng lại hùng mạnh về kinh tế; Cường quốc kinh tế, giàu có về của cải; nhưng người dân lại có chỉ số tiết kiệm cao nhất thế giới; nghịch lí về hình ảnh người Nhật với giờ công làm việc lớn, sống tiết kiệm nhưng lại có tuổi thọ cao nhất thế giới...Vậy liệu các nghịch lí nêu trên có mâu thuẫn không? Giáo viên hướng câu trả lời cho học sinh vào nội dung chính của bài học, lần lượt khai thác các nguồn lực, thế mạnh của con người, của những truyền thống tốt đẹp nước Nhật để học sinh thấy những vấn đề đặt ra ban đầu không có gì mâu thuẫn mà hết sức hợp lí, đồng thời chứa đựng nhiều bài học giáo dục có giá trị cho lứa tuổi khi đem các tình huống đó vào, như giáo dục về đức tính tiết kiệm, không ngừng vươn lên trước mọi thử thách khó khăn, về giá trị của ý chí và trí tuệ con người ... Cách nêu vấn đề nhằm mục đích tạo ra một số mâu thuẫn nho nhỏ, kích thích tính tò mò, muốn khám phá, muốn tham gia giải quyết vấn đề của học sinh. Muốn vậy người giáo viên phải lựa chọn được những tình huống có tính hấp dẫn cao, thường xuyên tìm tòi, tích lũy những hiểu biết nhất định về phong tục, tập
- quán, truyền thống tốt đẹp của các quốc gia trên thế giới phục vụ cho bài giảng của mình. Trên thực tế khi giáo viên nêu vấn đề học sinh rất hào hứng tham gia, nếu khéo léo thì biện pháp trên sẽ có ý nghĩa rất tích cực trong quá trình lên lớp. Tuy nhiên, sẽ có một số vấn đề nảy sinh như nhiều em nói cùng một lúc, gây ồn ào, lớp học mất trật tự, những học sinh không hợp tác sẽ tranh thủ làm việc riêng...Do vậy, khi sử dụng biện pháp nêu vấn đề giáo viên phải có kĩ năng bao quát lớp tốt, giữ trật tự ở một mức độ nhất định vừa đủ cho không khí lớp sôi nổi, biết dừng đúng thời điểm để chốt vấn đề và dẫn dắt các em sang tình huống mới. • Lồng ghép các câu chuyện có ý nghĩa sâu sắc liên quan đến nội dung bài học: Để khắc họa về giá trị của nguồn lực con người Nhật Bản giáo viên sử dụng “câu chuyện đánh cá của người Nhật”: “Từ xa xưa người Nhật đã biết khai thác lợi thế về tài nguyên biển của mình, ra khơi đánh cá, dùng muối ướp để đưa về đất liền, người tiêu dùng mua cá và mong muốn cá sẽ không mặn như vậy mà ngon như trong tự nhiên. Người đi biển đã cải thiện bằng cách sử dụng đá ướp lạnh để bảo quản, cá trở nên ngon hơn nhưng độ béo giảm, người tiêu dùng thầm ước có cá biển đang sống đem về tận bờ. Rồi người đánh cá lại trăn trở nghĩ suy và tìm ra giải pháp là tiến hành đóng những con tàu công suất lớn, xây dựng những hồ cá trên tàu, cá về đất liền còn quẫy nước tươi ngon, người dân hân hoan thõa mãn những mong muốn của mình; Nhưng một thời gian họ phát hiện ra cá gầy hơn trong tự nhiên; Những người ra khơi lại tiếp tục cung cấp rong rêu lấy từ biển cho cá trong thời gian trở về nhà, độ béo và ngon của cá ngày càng nâng lên.” Kết thúc câu chuyện giáo viên yêu cầu học sinh rút ra những đức tính quý giá của người Nhật, các em sẽ dễ dàng nhận ra và sôi nổi đưa ra ý kiến của mình như: - Người Nhật có khả năng thích nghi cao với các thay đổi. - Không ngừng hoàn thiện, vươn lên trong quá trình lao động và sản xuất. - Biết xoay chuyển những tình huống khó khăn, khai thác triệt để các thế mạnh sẵn có để đạt các kết quả cao nhất. - Luôn biết học hỏi, lắng nghe và điều chỉnh, sửa đổi các hạn chế, khuyết điểm. - Sau khi nghe rất nhiều ý kiến phát biểu sôi nổi của học sinh => Giáo viên chốt ý, khẳng định nguồn lực quan trọng nhất tạo nên sự hùng mạnh về kinh tế của Nhật Bản chính là tiềm lực con người, dân cư, lao động và cho học sinh rút ra được bài học sau khi nghe câu chuyện. Lưu ý: Do dung lượng bài giảng có hạn về thời gian nên các câu chuyện lồng ghép phải hết sức cô đọng (một vài phút), mang nhiều ý nghĩa giáo dục, hướng sát đến nội dung bài học, tránh sa đà kể chuyện chiếm mất nhiều thời gian dẫn đến tác dụng ngược lại. Thông qua các câu chuyện các em dễ dàng ghi nhớ kiến thức, trên thực tế
- bản thân tôi đã lồng ghép thử nghiệm nhiều và nhận thấy học sinh thực sự bị lôi cuốn, lúc đầu lắng nghe vì tò mò, sau đó người học được dẫn dắt tiếp cận nội dung cần lĩnh hội và trở thành những dấu hiệu căn bản để ghi nhớ kiến thức mỗi lần gợi nhớ đến các hình ảnh liên quan đến nội dung bài học. 4) Tiếp cận kiến thức trừu tượng thông qua liên hệ thực tiễn: a) Mục đích: Giúp học sinh nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, thiết thực hơn, đặc biệt với những nội dung kiến thức trừu tượng, khó hình dung, thông qua biện pháp liên hệ thực tiễn các em sẽ dễ dàng nhận dạng và lĩnh hội nhanh chóng, những sự vật, hiện tượng địa lí quen thuộc hàng ngày sẽ giúp các em ghi nhớ bền lâu, qua đó hình thành kĩ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề chặt chẽ, lôgic hơn. b) Biện pháp: - Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đặt ra những tình huống, những vấn đề quen thuộc, gần gũi với cuộc sống hàng ngày để học sinh liên hệ. - Để tăng cường tính xác thực giáo viên có thể thực hiện một số tình huống phỏng vấn nhỏ, lấy ví dụ thực tế trong gia đình, địa phương mỗi học sinh. Ví dụ: Trong bài 36 - Vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải (GTVT) – Địa lí 10 - ban cơ bản: - Để làm rõ cho học sinh hiểu đặc điểm: Sản phẩm của ngành GTVT là sự chuyên chở người và hàng hoá: GV cần nhấn mạnh, sản phẩm của ngành GTVT là phi vật chất, như vậy sẽ không nhìn thấy hình dạng, kích thước, màu sắc mà chỉ nhìn thấy người, hàng hoá dịch chuyển từ nơi này đến nơi khác mà thôi. Ví dụ: Một người đi từ Bình Phước về thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng phương tiện xe ô tô chở khách, như vậy người đó đã phải sử dụng dịch vụ của ngành giao thông vận tải. Sản phẩm của ngành GTVT ở đây là sự vận chuyển người đó từ Bình Phước về thành phố Hồ Chí Minh. - Để học sinh hiểu được ngành giao thông vận tải có vai trò củng cố tính thống nhất của nền kinh tế, giáo viên cho ví dụ: Hạt cà phê được thu hoạch ở Tây Nguyên => GTVT mang đến các nhà máy chế biến ở thành phố Hồ Chí Minh để sản xuất, cà phê đóng gói pha sẵn => sau đó GTVT mang sản phẩm đó đi tiêu thụ trên khắp các thị trường của cả nước => Vậy GTVT là cầu nối giữa vùng nguyên liệu với nơi chế biến, giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho nền kinh tế giữa các vùng miền trên cả nước có sự thống nhất và chuyên môn hóa sâu sắc. Tương tự giáo viên đưa thêm một số ví dụ các sản phẩm đặc trưng của địa phương như: hạt điều, cao su nếu có thời gian). 5) Sơ đồ hóa bài học: a) Mục đích: - Mỗi tiết học trong chương trình là một khối thống nhất và lôgic về nội dung, giữa các đề mục, các thành phần có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với
- nhau. - Do vậy, trong quá trình đứng lớp, để học sinh dễ hiểu nội dung, giáo viên nên sơ đồ hóa bài học, điều đó giúp học sinh có cái nhìn tổng quát nhất, nắm vấn đề một cách hoàn chỉnh, hình thành kĩ năng phân tích, nhận định, đánh giá một vấn đề sâu sắc, chặt chẽ hơn dựa trên tổng thể các mối quan hệ. b) Cách thức tiến hành: Giáo viên xây dựng sơ đồ dựa trên các mối quan hệ nhân quả, biện chứng của sự vật – hiện tượng trong Địa lí. - Sơ đồ có thể được xây dựng đồng thời trong quá trình tiến hành hoạt động dạy và học. Ví dụ: Trong bài 5 – Tiết 2 – Một số vấn đề của Mĩ La Tinh – Địa Lí 11, khi thực hiện hoạt động dạy học giáo viên kết hợp xây dựng sơ đồ lên bảng, để khi kết thúc bài, học sinh dễ dàng nhận ra các đề mục vừa được học về Mĩ La Tinh là một chỉnh thể thống nhất, khép kín như sau: I. Một số tiềm năng để -Cải cách mô hình quản lí KT- phát triển kinh tế Mĩ La Tinh XH. - Tài nguyên khoáng sản phong phú: -Tăng cường liên kết khu vực, Khai thác - Tài nguyên đất, khí hậu: đảm bảo tính độc lập tự chủ,đi => Thuận lợi cho phát triển chăn hiệu quả liền hội nhập với bên ngoài. nuôi, trồng cây công nghiệp và tiềm năng cây ăn quả nhiệt đới, trồng rừng II. Một số vấn đề cần giải quyết để phát triển kinh tế - xã hội của Mĩ GIẢI La Tinh PHÁP - Chênh lệch lớn trong thu nhập GDP giữa các nhóm dân cư. - Đô thị hóa tự phát, tỉ lệ dân nghèo - Chưa có đường lối thành thị khá lớn. phát triển phù hợp, tự - Tốc độ tăng trưởng kinh tế chủ không đều, đầu tư nước ngoài giảm do xã hội thiếu ổn định. - Duy trì chế độ phong - Đường lối phát triển kinh tế lạc hậu. Nguyên kiến, thiên chúa bảo thủ - Nợ nước ngoài cao, phụ nhân quá lâu. thuộc vào các nước tư bản . nhân? - Tình hình chính trị thiếu ổn định. - Sơ đồ cũng có thể đưa ra để mở đầu bài học nhằm định hướng được nội dung cần khai thác, hoặc dùng để củng cố vào cuối tiết giúp học sinh tổng quát được các vấn đề cần nắm vững khi kết thúc bài học.
- Ví dụ: Trong bài 10: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và xã hội - Địa lí 11; giáo viên đưa ra sơ đồ sau khi mở đầu hoặc BÀI 10: CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA (TRUNG QUỐC) Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và xã hội Sự I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ LÃNH THỔ phát Là nguồn triển lực quan KT- trọng, XH trong đó II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Trung dân cư có Quốc ý nghĩa quyết định III.DÂN CƯ VÀ XÃ HỘI kết thúc bài: * Ý nghĩa chung: Các sự kiện, hình ảnh, câu chuyện cô đọng, các lời dẫn dắt, cách đặt vấn đề, liên hệ thực tiễn, sơ đồ kiến thức....đều có tác dụng hai chiều: + Thông qua các biện pháp trên để thu hút sự tập trung nghe giảng một cách tự giác của học sinh, giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi. + Hình ảnh trực quan sinh động, sự kiện mang nhiều dấu ấn thực tiễn sẽ giúp học sinh nắm bài nhanh, hình thành kĩ năng ghi nhớ kiến thức khoa học, giảm lối học vẹt nhanh nhớ, chóng quên. + Quá trình kiểm tra, đánh giá trên lớp giúp học sinh tự tin, chủ động gợi nhớ kiến thức thông qua các dấu ấn sâu sắc đã để lại trong các bài học. Ví dụ: Giáo viên giảng cho học sinh nghe trên lớp rằng dân cư Nhật Bản là tiềm lực quan trọng nhất làm nên sức mạnh của cường quốc kinh tế, học sinh có thể sẽ quên, nhưng khi gắn điều đó với các dấu ấn về hình ảnh, sự kiện, truyền thống, các câu chuyện kể thì các em sẽ gợi nhớ lại rất nhanh. + Trong một bài học, giáo viên có thể kết hợp đa dạng nhiều phương pháp nhằm mục đích duy trì sự tập trung chú ý và sự sôi nổi cần thiết trong suốt tiết học. Nếu chỉ đưa ra một vài sự kiện, hình ảnh trong một số tình huống nhất định thì chỉ lôi cuốn sự chú ý của các em trong chốc lát. Sự kiện nối tiếp sự kiện, hình ảnh nối tiếp hình ảnh, các lời dẫn sâu sắc sẽ khiến cho học sinh không dứt ra được trong cả quá trình học. + Tuy nhiên, các nhân tố trên cần được chọn lọc, tránh tràn lan, các biện pháp sử dụng sẽ có ý nghĩa làm bật nổi nội dung chính, mang lại dấu ấn sâu sắc. 6) Các biện pháp kết hợp:
- Ngoài các biện pháp nêu trên, trong quá trình giảng dạy, kết hợp với tổ chuyên môn, các tổ chức của nhà trường nên kết hợp hoạt động giáo dục trên lớp với các buổi ngoại khóa, thi viết bài tìm hiểu với nhiều chủ đề liên quan đến bài học, tham quan các cơ sở sản xuất ở địa phương, khám phá, điều tra thực tiễn nhằm phát huy tinh thần tự giác, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc sự hứng thú và yêu thích học tập môn Địa lí. * Kết luận chung: Các biện pháp nêu trên được xây dựng trên cơ sở lôgic theo hướng hoàn thiện như sau: NHẬN DIỆN PHÂN LOẠI LỚP THIẾT KẾ GIÁO ÁN PHÙ HỢP LÊN LỚP Kiến thức cơ bản Kiến thức trừu tượng (Hình ảnh, sự kiện, liên hệ thực tiễn, sơ đồ hóa) HỌC HỌC SINH SINH HỨNG THÚ HIỆU QUẢ III. KẾT LUẬN: Sau khi mạnh dạn đưa ra đề tài:“Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả và hứng thú cho học sinh trong các tiết học Địa lí ở trường THPT” làm chuyên đề báo cáo trước tổ chuyên môn, tôi được anh em đồng nghiệp ủng hộ và tiến hành phổ biến rộng rãi trong quá trình lên lớp, kết quả là tỉ lệ bộ môn được nâng cao, học sinh nắm bài nhanh, nhớ lâu, các tiết học giảm bớt được nặng nề, tránh được nhàm chán nhờ các hình ảnh sinh động, các tình huống đặt ra liên hệ hết sức gần gũi, đời thường, như chính các em đang được nói về mình, đem bài học đến gần với cuộc sống, kiến thức bài học không còn trừu tượng, khô khan mà trở nên quen thuộc, dễ nắm bắt và thiết thực hơn. Trong quá trình giảng dạy ở trường, quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, bồi dưỡng khối ôn thi THPT quốc gia, thông qua việc áp dụng linh hoạt các phương pháp nêu trên và không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhiều bạn bè đồng nghiệp, trong lĩnh vực chuyên môn của bản thân tôi đã đạt được một số kết
- quả nhất định. Phước Long, ngày 06 tháng 3 năm 2021. Người thực hiện đề tài Phạm Văn Đông

