Báo cáo Biện pháp Giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể thông qua qui tắc 5 ngón tay
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Biện pháp Giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể thông qua qui tắc 5 ngón tay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_giup_tre_4_5_tuoi_hinh_thanh_ki_nang_phong.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kĩ năng phòng tránh xâm hại cơ thể thông qua qui tắc 5 ngón tay
- PHÒNG GD&ĐT HUYỆN LỘC NINH TRƯỜNG MẪU GIÁO HƯỚNG DƯƠNG BÁO CÁO BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 4-5 TUỔI HÌNH THÀNH KĨ NĂNG PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI CƠ THỂ THÔNG QUA QUI TẮC 5 NGÓN TAY Người thực hiện: NGUYỄN THỊ MỸ NHUNG Môn dự thi Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác Năm học:2020 - 2021
- 2 MỤC LỤC STT Nội dung Trang 1 Thông Tin Chung Về Biện Pháp 3 1.2 Tên báo cáo biện pháp 3 1.2.Tác giả 3 2 Phần mở đầu 4 2.1 Lí do chọn biện pháp 4 2.2 Phạm vi và đối tượng thực hiện 4 2.3 Mục đích của biện pháp 4 3 Phần nội dung 5-13 3.1 Nội Dung các biện pháp của tác giả đã thực hiện 5-13 3.2 Hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện 13 3.3 Điều kiện áp dụng biện pháp 13-14 4 Phần kết luận 14-15 4.1 Khẳng định lại biện pháp đã được bản thân áp dụng và 14 mang lại hiệu quả. 4.2 Trình bày một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong 14 quá trình thực hiện biện pháp. 4.3 Những kiến nghị, đề xuất để triễn khai, ứng dụng các 15 biện pháp vào thưc tiễn.
- 3 THÔNG TIN CHUNG VỀ BÁO CÁO BIỆN PHÁP 1. Tên báo cáo biện pháp: Giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kỹ năng xâm hại cơ thể qua quy tắc 5 ngón tay 2. Tác giả: - Họ và tên: Nguyễn Thị Mỹ Nhung .Nam (nữ): Nữ - Trình độ chuyên môn: Đại Học Sư Phạm Mầm Non - Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo Viên Trường Mẫu giáo Hướng Dương - Đang giảng dạy môn/lớp:.Chồi - Điện thoại:0987250650 Email: [email protected]
- 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp - Năm học 2020-2021, phòng giáo dục triển khai chuyên đề phòng chống bị xâm hại và bạo hành trẻ tôi thấy rất quan trọng và thiết thực, cần được tuyên truyền rộng rãi tới toàn thể quí phụ huynh đặc biệt là lứa tuổi Mầm Non vì lứa tuổi này trẻ còn quá nhỏ để nhận biết được những dấu hiệu bị xâm hại. - Qua thực tế tại trường MGHD nơi tôi công tác đa số trẻ chưa hiểu nhiều về các bộ phận của của cơ thể, những bộ phận quan trọng không cho người khác đụng vào đặc biệt là những bộ phận gọi là vùng riêng tư. Bên cạnh đó, trường MGHD là trường thuộc xã biên giới đa số trẻ là dân tộc, con công nhân, nông dân gia đình thuộc khó khăn nên điều kiện kinh tế chưa ổn định, ba mẹ suốt ngày đi làm chưa thường xuyên quan tâm, chia sẻ đến trẻ những kĩ năng cần thiết để trẻ tự bảo vệ cơ thể mình tránh bị xâm hại. - Một trường hợp cụ thể xảy ra trên địa bàn Lộc Thạnh 2 năm qua đó là bé gái 5 tuổi bị chính người hàng xóm mà bé thường gọi là ông nội xâm hại tình dục. Vấn đề xâm hại tình dục gây rất nhiều tổn thương về tinh thần lẩn thể xác cho trẻ, cũng là vấn đề nhức nhối mà xã hội đáng để quan tâm. Cũng như tại lớp tôi dạy có cháu Tuyết Vy đến lớp rất nhút nhát, thụ động và ít tham gia chơi cùng với bạn, qua tìm hiểu thì cháu chia sẽ là mẹ đi làm bé ở nhà với bố bé thường xuyên bị bố đánh và nhéo vào ngực bé. Tôi đã gặp mẹ bé để trao đổi thì được biết đó là bố dượng. - Vì thế qua buổi tập huấn của phòng giáo dục tôi đã nghiên cứu tìm tòi tài liệu, tranh ảnh, sách báo và đưa ra biện pháp “giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể qua quy tắc 5 ngón tay”. 2. Phạm vi và đối tượng thực hiện - Phạm vi: áp dụng rộng rãi trong trường Mẫu giáo Hướng Dương - Đối tượng thực hiện: tất cả các lứa tuổi Mầm Non. Cụ thể là trẻ 4-5 tuổi (lớp Chồi). 3. Mục đích của biện pháp - Giúp trẻ hình thành các kỹ năng tự bảo vệ cơ thể mình như hiểu về các bộ phận trên cơ thể, hiểu được những vùng riêng tư và quan trọng là các phòng tránh khi bị người khác đụng, chạm vào cơ thể.
- 5 PHẦN NỘI DUNG 1. Nội dung các biện pháp của tác giả đã thực hiện: - Đối với trẻ 4-5 tuổi, khả năng nhận thức về một vấn đề đã được phát triển nhiều và để giúp trẻ hiểu rõ cũng như hình thành các kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể thì quy tắc 5 ngón tay chính là cách giúp trẻ hiểu chi tiết thông qua hình ảnh của 5 ngón tay. Vì đôi bàn tay là bộ phận rất gần gũi, thân thiết với trẻ. Trẻ dùng đôi bàn tay trong tất cả các hoạt động hằng ngày từ ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân đến việc học tập, vui chơi của trẻ. - Tuy nhiên đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi lớp tôi chủ nhiệm thì nếu như chỉ cho trẻ nhận biết tên và vị trí trên từng ngón tay thì trẻ rất dễ quên, do đó tôi chọn việc giúp trẻ nhận biết các ngón tay bằng các cách như con số, các bộ phận trên cơ thể, rối tay.. thì trẻ sẽ rất dễ nhớ cũng như thực hành về quy tắc 5 ngón tay trong phòng chống xâm hại cơ thể. * Cách 1: Dạy trẻ qui tắc 5 ngón tay lồng ghép qua số đếm. - Khi giáo viên dạy trẻ qui tắc 5 ngón tay thì chúng ta sẽ lồng ghép dạy trẻ nhận biết chữ số từ 1 đến 5 vì ở lứa tuổi này số thứ tự từ 1 đến 5 trẻ rất dễ dàng nhận biết và học thuộc rất nhanh. Khi dạy trẻ qui tắc 5 ngón tay thì nói đến ngón tay nào cô sẽ đưa số ra để giúp trẻ ghi nhớ một cách tốt nhất. Cách 1: lồng ghép qua số đếm Ngón giữa NgónTáepxtút Người quen của ba mẹ, Người quen của Ngón trỏ hàng xóm chỉ gđ mới gặp lần Thầy cô, bạn bè, bắt tay đầu chỉ vẫy Ngón út họ hàng của gia đình tay chào nắm tay, Người xa lạ chưa gặp khoác vai hoặc lầnnào nếu đụng chơi đùa 3 vào vùng riêng tư 4 của con thì co hét to, chạy đi, kêu cứu. Ngón cái Ôm hôn trẻ là những 5 người thân trong gđ: bố mẹ, ôTnegxbtà QUI TẮC 5 NGÓN TAY www.trungtamtinhoc.edu.vn - Ngón tay cái ( biểu thị số 1): Trong một bàn tay thì ngón cái là ngón tay gần trẻ nhất nó tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột, với qui tắc này thì trẻ có thể ôm hôn mọi người hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửa khi trẻ còn nhỏ. Khi trẻ có thể tự làm vệ sinh cá nhân thì sẽ không cần sự trợ giúp từ gia đình nữa.
- 6 - Ngón tay trỏ ( biểu thị số 2) - Tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình. Những người này trẻ có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. - Ngón tay giữa (biểu thị số 3) - là ngón tượng trưng cho những người quen như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ. Trẻ có thể bắt tay, cười và chào hỏi họ. - Ngón tay áp út (biểu thị số 4) - Ngón này đã dần xa hơn với trẻ, nó đồng nghĩa với việc các đối tượng này là những người mới gặp lần đầu vì vậy trẻ có thể dừng lại ở mức vẫy tay chào. - Ngón tay út ( biểu thị số 5)- Cuối cùng, với ngón tay út, vị trí ngón tay xa bé nhất thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc có cử chỉ quá thân mật khiến trẻ cảm thấy bất an, lo sợ. Nếu gặp trường hợp này, trẻ hãy xua tay hoặc có thể bỏ chạy và hét thật to để thông báo với mọi người xung quanh để họ kịp thời hỗ trợ trẻ. * Cách 2: dạy trẻ qui tắc 5 ngón tay lồng ghép qua các bộ phận trên cơ thể trẻ. - Bởi vì các bộ phận trên cơ thể trẻ nó đã gắn liền với bản thân trẻ từ nhỏ cho đến khi trẻ nhận biết được và gọi được tên các bộ phận đó thì lúc đó trẻ đã nhận thức được rằng cơ thể của trẻ các bộ phận đó quan trọng như thế nào và nó cần được bảo vệ và phòng tránh như thế nào. Cách 2: lồng ghép qua các bộ phận trên cơ thể trẻ. Ngón áp SỐ ĐẾM Ngón giữa út Người quen của Ngón trỏ ba mẹ, Người quen của Thầy cô, bạn bè, hàng xóm chỉ gđ mới gặp lần họ hàng của gia đình bắt tay đầu chỉ vẫy Ngón út nắm tay, tay chào khoác vai hoặc Người xa lạ chưa gặp chơi đùa Lần nào nếu đụng vào vùng riêng tư của con thì co hét to, Ngón cái chạy đi, kêu cứu. ÔmTehôxnt trẻ là những người thân trong gđ: bố mẹ, ông bà QUI TẮC 5 NGÓN TAY www.trungtamtinhoc.edu.vn - Ngón tay cái qui ước là cái miệng của trẻ, chỉ những người thân yêu như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột, với qui tắc này thì trẻ có thể ôm hôn mọi người hoặc trẻ đồng ý cho mọi người người được ôm hôn mình.
- 7 - Ngón tay trỏ qui ước là đôi mắt của trẻ, ở đôi mắt này cho trẻ nhìn thấy thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình. Những người này trẻ có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa với trẻ. -Ngón tay giữa qui ước là đôi bàn tay của trẻ: ở bộ phận này trẻ có thể bắt tay, cười và chào hỏi họ những người quen như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ. - Ngón tay áp út qui ước là vùng ngực vì vậy các đối tượng này là những người mới gặp lần đầu trẻ có thể dừng lại ở mức vẫy tay chào hỏi và đi không giao tiếp. - Ngón tay út qui ước là vùng kín cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc có cử chỉ quá thân mật khiến trẻ cảm thấy bất an, lo sợ thì hãy hét to lên và chạy đi thật nhanh tìm người giúp đỡ. * Cách 3: Dạy trẻ qui tắc 5 ngón tay lồng ghép qua rối ngón tay. - Để trẻ dễ nhận biết nội dung cũng như vị trí của từng ngón tay, ngoài việc sử dụ ng chữ cái, các con số hay các bộ phận trên cơ thể dán lên trên các ngón tay thì tôi sử dụng phương pháp rối ngón tay với các con rối mang hình ảnh gần gũi cho trẻ. Cách 3: Lồng ghép qua rối tay. . Ngón áp SNgỐón trĐỏ ẾM Ngón giữa út Thầy cô, bạn bè, Người quen của Người quen của ba mẹ, họ hàng của gia đình gđ mới gặp lần Ngón út hàng xóm chỉ đầu chỉ vẫy nắm tay, Người xa lạ chưa gặp bắt tay tay chào khoác vai hoặc Lần nào nếu đụng chơi đùa vào vùng riêng tư của con thì co hét to, chạy đi, kêu cứu. Ngón cái Text Ôm hôn trẻ là những người thân trong gđ: bố mẹ, ông bà QUI TẮC QUI TẮC 5 NGÓN TAY
- 8 - Ngón tay cái: là rối hình ảnh người mẹ tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột, với qui tắc này thì trẻ có thể ôm hôn mọi người hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửa khi trẻ còn nhỏ. Khi trẻ có thể tự làm vệ sinh cá nhân thì sẽ không cần sự trợ giúp từ gia đình nữa. - Ngón tay trỏ: là rối hình cô giáo tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình. Những người này trẻ có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Nếu một trong những người này chạm vào vùng kín của trẻ, trẻ phải hét thật to và thông báo cho cha mẹ. - Ngón tay giữa: là hình rối bác hàng xóm tượng trưng cho những người quen như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ. Trẻ có thể bắt tay, cười và chào hỏi họ. - Ngón tay áp: là hình rối người lạ mới gặp lần đầu nó đồng nghĩa với việc các đối tượng này là những người mới gặp lần đầu vì vậy trẻ có thể dừng lại ở mức vẫy tay chào. - Ngón tay út: là hình rối người lạ tượng trưng cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc có cử chỉ quá thân mật khiến trẻ cảm thấy bất an, lo sợ. Nếu gặp trường hợp này, trẻ hãy xua tay hoặc có thể bỏ chạy và hét thật to để thông báo với mọi người xung quanh để họ kịp thời hỗ trợ trẻ. - Ngoài các nội dung, ý nghĩa của 5 ngón tay ở 3 cách, tôi còn dạy trẻ cách xử lý nếu bị xâm hại (Đụng chạm vào vùng riêng tư) + Đẩy ra, la lớn khi bị người khác đụng vào vùng riêng tư. + Nói với người lớn (Cô giáo, cha mẹ, ông bà, người thân trong gia đình). + Dạy trẻ ứng phó với những việc khẩn cấp cần được bảo vệ là các con sẽ gọi đến tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 và gọi cho công an 113 để được chia sẽ và giúp đỡ các con mọi lúc, mọi nơi. - Dạy trẻ tuyệt đối không đi theo, nhận quà, đồ chơi từ người lạ. Đồng thời giáo viên và phụ huynh cần cho trẻ biết cơ thể của con là không ai được chạm vào , đặc biệt là vùng riêng tư, nhận ra bí mật tốt và bí mật xấu để nói với người mà con tin tưởng từ đó các con sẽ được giúp đỡ và an toàn. * Trước khi tôi ứng dụng biện pháp vào tiết dạy thì tôi mời tất cả phụ huynh của lớp và đặc biệt là phụ huynh bé Tuyết Vy, Ban giám hiệu, tổ trưởng tổ chuyên môn, giáo viên cùng dự. - Cụ thể tôi trình chiếu trên papoiw cho trẻ hiểu theo ba cách như đã nêu trên, lồng ghép qua chữ số, bộ phận trên cơ thể, rối tay. - Tôi đưa vào áp dụng với hình thức cho trẻ thực hành cụ thể như qua hình thức trò chơi: + Trò chơi cá nhân: Cô chuẩn bị mỗi trẻ một rổ chữ số, hình ảnh các bộ phận cơ thể, rối tay. Sau đó cho trẻ thực hành trên bàn tay của mình theo ba cách. Vd với hình thức chữ số khi cô nói người thân ruột thịt trong gia đình thì trẻ sẽ lấy số 1 gắn vào ngón tay cái của mình và cô hỏi người thân trong gia đình
- 9 mình gồm những ai( trẻ kể tên.....) Nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn hình ảnh người thân trong gia đình được ôm hôn trẻ thông qua qui tắc 5 ngón tay.
- 10 + Trò chơi tập thể: Cô chuẩn bị mô hình bàn tay có gắn bánh xe để trẻ dể dàng di chuyển và chuẩn bị các con số, tranh hình ảnh bộ phận cơ thể, rối tay. Chia lớp thành hai đội cho trẻ lên thực hiện yêu cầu của cô đưa ra. Vd: + Tổ 1: gắn các con số và hình ảnh các bộ phận cơ thể vào mô hình bàn tay. + Tổ 2: gắn các con số và hình ảnh các bộ phận cơ thể vào mô hình bàn tay. - Khi thực hiện thì bàn tay có hai mặt thì trẻ lên gắn hết chữ số vào hết 5 ngón tay của mặt trước sau đó xoay mô hình bàn tay ra mặt sau các bạn tiếp theo lên gắn các hình ảnh bộ phận cơ thể vào mặt sau ngón tay. Đội nào thực hiện nhanh và đúng theo yêu cầu thì sẽ chiến thắng.
- 11 - Hình thức tiếp theo tôi sử dụng cho trẻ thực hành là cho trẻ đóng kịch xử lí tình huống đối tượng là bé Tuyết Vy: Cô vẽ một vòng tròn cho bé Tuyết Vy đứng giữa vòng tròn đóng vai qui tắc 5 ngón tay vì bé là lí do mà tôi đưa ra biện pháp này, mẹ và bà đóng vai người thân trong gia đình trẻ có thể ôm hôn và kết hợp đưa ngón tay cái tượng trưng cho người thân gần gủi trẻ nhất, cô trinh và các bạn lớp chồi 1 đóng vai cô giáo, bạn bè trẻ có thể chơi đùa cùng nhau và đưa ngón tay trỏ ra tượng trưng cho người gần gủi tiếp, mời Cô Hương đóng vai bạn của ba mẹ thì trẻ có thể bắt tay, chào hỏi và đưa ngón tay giữa ra, người lạ mới gặp sẽ mời phụ huynh của lớp khác đóng vai người lạ mới gặp trẻ chỉ đứng vẫy tay chào và đưa ngón áp út tượng trưng. Cuối cùng là người xa lạ tôi mời một người lạ mà trẻ chưa gặp lần nào đóng vai thì trẻ đứng xa ra và người lạ có cử chỉ thâm mật làm trẻ cảm thấy bất an thì xua tay bỏ chạy, hét to và thông báo nhờ người giúp đỡ, với trường hợp này trẻ sẽ đưa ngón tay út ra tượng trưng.
- 13 - Khi kết thúc tình huống tôi cùng trẻ thực hành trên bàn tay của mình khi cô đưa ngón tay cái kết hợp nói tượng trưng cho ai trẻ trả lời cùng nhau đọc to tượng trưng cho người thân trong gia đình và đồng thời biểu thị cho số 1 và cái miệng, khi cô đưa ngón trỏ kết hợp nói tượng trưng cho ai thì trẻ sẽ trả lời là thầy cô, bạn bè, biểu thị cho số 2 và cho đôi mắt, khi cô giơ ngón tay giữa tượng trưng cho ai thì trẻ sẽ trả lời là chú hàng xóm, bạn bè của ba mẹ, biểu thị cho số 3 và bàn tay, khi cô giơ ngón tay áp út tượng trưng cho ai thì trẻ sẽ trả lời là người mà trẻ mới gặp lần đầu, biểu thị cho số 4 và vùng ngực, khi cô giơ ngón tay út tượng trưng cho ai thì trẻ sẽ trả lời là người xa lạ, biểu thị cho số 5 và vùng riêng tư. - Khi trẻ thực hành tôi lồng ghép bài nhạc: 5 ngón tay xinh giúp cho tiết học sôi động và thu hút trẻ tích cực tham gia vào hoạt động. 2. Hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện Kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp Trước khi thực Sau khi thực Tỷ lệ % hiện hiện Nội dung STT Số Tỷ Số Tỷ Tăng Giảm lượng lệ% lượng lệ% 1 Biết các bộ phận trên cơ thể 22/31 80 31/31/ 100 20 2 Biết các bộ phận nhạy cảm 10/31 32 28/31 90 58 3 Hiểu về vùng riêng tư 5/31 16 26/31 84 68 4 Cách xử lí khi tiếp xúc với 10/31 32 30/31 97 65 người lạ. * Riêng bé Tuyết Vy sau khi tôi áp dụng biện pháp vào giảng dạy và bé trực tiếp tham gia đóng vai qui tắc 5 ngón tay trong thực hiện tình huống thì bé có sự thay đổi, bé đã tham gia chơi cùng bạn vào các hoạt động, bé đã biết tránh xa bố khi không có mẹ ở nhà, biết nói với mẹ khi bị đánh và xâm hại cơ thể. * Đối với phụ huynh của lớp đã hiểu và quan tâm phối hợp cùng cô trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc biết đối với mẹ bé Tuyết Vy đã dự và tham gia đóng vai người thân trong gia đình mẹ bé đã hiểu quan tâm dành thời gian cho bé nhiều hơn, tìm cách nói chuyện với bố dượng bé hiểu để không đánh bé nữa. 3. Điều kiện áp dụng biện pháp - Về phía GV: Nắm vững kiến thức khi trang bị cho trẻ; khi dạy cần có những hình ảnh, clip minh họa để trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu đồng thời cho trẻ tập thực hành kỹ năng xử lý khi có người lạ đụng, chạm vào vùng riêng tư.
- 14 - Về phía trẻ: đa số trẻ mạnh dạn, tự tin, nhanh nhẹn và tích cực tham gia vào hoạt động, biết cách bảo vệ cơ thể mình. - Về phía phụ huynh: Hiểu được tâm lý của trẻ, quan tâm trẻ và phối hợp cùng cô trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ. - Về phía nhà trường: được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường đã đầu tư cơ sở vật chất và các điều kiện trang thiết bị, sách báo, tranh ảnh, mạng internet có kết nối đến từng lớp để đáp ứng cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ. PHẦN KẾT LUẬN 1. Khẳng định lại biện pháp đã được bản thân áp dụng và mang lại hiệu quả - Biện pháp “giúp trẻ 4-5 tuổi hình thành kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể qua quy tắc 5 ngón tay” đã được áp dụng hiệu quả tại trường MGHD cụ thể là trẻ 4-5 tuổi và được BGH, đồng nghiệp đánh giá cao cũng như nhận được sự đồng thuận của các phụ huynh trong nhà trường. - Qua việc triển khai tiết dạy đã giúp trẻ hiểu và biết bảo vệ tất cả các bộ phận trên cơ thể mình cũng như những vùng riêng tư, không cho người khác đụng chạm vào; nhất là trẻ biết cách phòng tránh và tự bảo vệ cơ thể khi có người lạ chạm vào như ôm, hôn, nắm tay, cầm tay Qua đó trẻ biết chia sẽ với ông bà, cha mẹ, cô giáo, người thân trong gia đình khi bị xâm hại, biết không nhận quà của người lạ, biết la lớn khi bị người lạ chạm vào cơ thể của mình. - Riêng bé Tuyết Vy sau khi tôi áp dụng biện pháp vào giảng dạy và bé trực tiếp tham gia đóng vai qui tắc 5 ngón tay trong thực hiện tình huống thì bé có sự thay đổi, bé đã tham gia chơi cùng bạn vào các hoạt động, bé đã biết tránh xa bố khi không có mẹ ở nhà, biết nói với mẹ khi bị đánh và xâm hại cơ thể. - Đối với phụ huynh của lớp đã hiểu và quan tâm phối hợp cùng cô trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc biết đối với mẹ bé Tuyết Vy đã dự và tham gia đóng vai người thân trong gia đình mẹ bé đã hiểu quan tâm dành thời gian cho bé nhiều hơn, tìm cách nói chuyện với bố dượng bé hiểu để không đánh bé nữa. 2. Trình bày một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình thực hiện biện pháp - Cần tìm tòi nhiều tài liệu qua sách báo mạng internet chuyên sâu hơn nữa, nắm vững kiến thức về chuyên đề xâm hại để không những giáo dục trẻ trên các hoạt động dạy học mà còn áp dụng giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi. -Thường xuyên quan tâm, chia sẻ, gần gũi, động viên trẻ. Cần chú ý đến trẻ chậm phát triển, trẻ cá biệt; cho trẻ thực hành nhiều hơn về cách phòng tránh khi bị người lạ xâm hại đụng vào cơ thể. - Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, tuyên truyền đến phụ huynh về cách dạy trẻ phòng tránh bị xâm hại cơ thể khi ở nhà cũng như mọi lúc mọi nơi. 3. Những kiến nghị, đề xuất để triển khai, ứng dụng các biện pháp vào thực tiễn. - Kiến nghị nhà trường thường xuyên mời các chuyên gia về tâm lí cũng như chuyên gia về các chuyên đề xâm hại, phòng chống bạo lực về dạy tuyên truyền cho toàn thể giáo viên, học sinh cũng như phụ huynh trong nhà trường để có kiến thức sâu
- 15 rộng hơn về giáo dục và chăm sóc trẻ. Lắp đặt camera an nin để tiện theo dõi va chăm sóc trẻ. , ngày tháng năm .. XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU TÁC GIẢ

