Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp quản lý chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường tiểu học Tân Tiến
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp quản lý chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường tiểu học Tân Tiến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_bien_phap_quan_ly_chi_dao_day_hoc_ho.doc
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Biện pháp quản lý chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường tiểu học Tân Tiến
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến ngành Giáo dục huyện Đồng Phú Tôi ghi tên dưới đây: Ngày Trình độ Tỷ lệ (%) đóng Số Nơi công Chức Họ và tên tháng chuyên góp vào việc tạo TT tác danh năm sinh môn ra sáng kiến Trường TH 1 Hoàng Thị Nga 18/7/1980 PHT ĐHSP 100% Tân Tiến Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Biện pháp quản lý chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường tiểu học Tân Tiến” Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý. Ngày sáng kiến được áp dụng chính thức: từ ngày 1/9/2015 Mô tả bản chất của sáng kiến: Trường TH Tân Tiến là trường nằm ngay trung tâm xã, tỉ lệ lên lớp hàng năm đạt từ 99,1 %. Tuy nhiên chất lượng giáo dục học sinh của nhà trường còn thấp so với các trường thuận lợi như trường TH Tân Phú, trường TH Tân Lập A tỉ lệ học sinh lên lớp hàng năm từ 99,5% thậm trí lên đến 100% (TH Tân Lập A). Chính vì thế, là một người làm công tác quản lý cần phải tìm ra giải pháp quản lý, chỉ đạo để hỗ trợ nâng cao chất lượng học sinh, cho nên tôi quyết định chọn đề tài “Biện pháp quản lý, chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường TH Tân Tiến” * Tính mới, tính sáng tạo của biện pháp: - Chỉ đạo rà soát chất lượng học tập của học sinh. - Xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể và chỉ đạo thực hiện. - 1 -
- - Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong Hội đồng sư phạm nhà trường như: Nhiệm vụ đối với người quản lý chuyên môn, nhiệm vụ của tổ khối và nhiệm vụ của giáo viên trong công tác dạy học hỗ trợ học sinh. - Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên nắm vững quy trình dạy học hỗ trợ học sinh. Tăng cường công tác dự giờ, thao giảng, triển khai chuyên đề, phát động phong trào thi đua “dạy tốt – học tốt” . - Tăng cường công tác kiểm tra dạy và học hỗ trợ học sinh để kịp thời điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp. - Khuyến khích động viên, khen thưởng kịp thời giáo viên, học sinh có thành tích tốt trong công tác dạy học hỗ trợ học sinh. * Nội dung giải pháp sáng kiến: 1. Chỉ đạo rà soát chất lượng học tập của học sinh. Đây là việc làm nhằm phát hiện ra những học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kĩ năng cần được hỗ trợ trong quá trình dạy học. Học sinh cần hỗ trợ là những học sinh chưa hoàn thành ít nhất một trong các điều kiện: + Đánh giá thường xuyên đối với tất cả các môn học, hoạt động giáo dục: Hoàn thành; + Đánh giá định kì cuối năm học các môn học theo quy định: đạt điểm 5 (năm) trở lên; + Mức độ hình thành và phát triển năng lực: Đạt; + Mức độ hình thành và phát triển phẩm chất: Đạt; Tùy theo mức độ chưa hoàn thành ở các môn học, hoạt động giáo dục, bài kiểm tra định kì, mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, giáo viên lập danh sách đề nghị hỗ trợ. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, tôi đã tổ chức cho giáo viên rà soát chất lượng học tập của học sinh thông qua biên bản “nghiệm thu, bàn giao” chất lượng lớp dưới lên lớp trên ở tất cả các khối lớp (hai môn Toán và Tiếng việt); kết hợp với việc theo dõi trong quá trình giảng dạy để nắm bắt tình hình học tập của học sinh, thống kê riêng số lượng học sinh còn hạn chế từng mặt, từng môn trong - 2 -
- học tập, lập danh sách và xây dựng kế hoạch hỗ trợ của lớp mình theo từng tuần, từng tháng. Tuy nhiên việc rà soát chất lượng học tập để phát hiện học sinh học chưa tốt từ đó có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ phù hợp với từng học sinh chứ không phải rà soát để “phân biệt” giữa học sinh này với học sinh khác nhằm tránh sự mặc cảm trong các em. 2. Xây dựng kế hoạch. Kế hoạch “Quản lí, chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kĩ năng” là một bộ phận hữu cơ của kế hoạch năm học đồng thời là mắt xích trọng yếu của quy trình quản lý chỉ đạo chuyên môn. Để xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy học “Hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kĩ năng” có hiệu quả tôi nghiên cứu kĩ “Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2015 – 2016” của Sở GD, phòng GD – ĐT Đồng Phú và bám sát vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường cũng như kế hoạch trường đạt chuẩn quốc gia năm học 2015 – 2016, bản thân đã xây dựng kế hoạch “Hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng” chi tiết, cụ thể. Kế hoạch “Hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng” bao gồm các mục tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau bởi mục tiêu và hệ thống các biện pháp được xây dựng nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được xác định. Kế hoạch được cụ thể hóa thành chương trình hoạt động từng học kỳ, từng tháng và hàng tuần. Khi xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch quản lý sẽ giúp người quản lí có tầm nhìn bao quát về tình hình dạy học hỗ trợ học sinh; có sự phân phối nguồn lực và phân công các bộ phận, cá nhân hợp lí để họ có tâm thế chuẩn bị chủ động công tác ngay từ đầu năm học. Có xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch quản lý thì mới đảm bảo được tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính hướng tới mục tiêu quá trình dạy và học. 3. Công tác triển khai chỉ đạo của người quản lý. Xác định công tác dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng là nhiệm vụ quan trọng của đơn vị trong năm học 2015 – 2016 nên - 3 -
- ngay từ đầu năm học tôi đã triển khai kế hoạch dạy học hỗ trợ học sinh, thiết lập bộ hồ sơ theo dõi thường xuyên về: Nội dung, chương trình, bài soạn, kết quả tiến bộ của học sinh... - Lập danh sách học sinh cần hỗ trợ với đầy đủ thông tin cần thiết để thuận tiện trong việc theo dõi quản lý. - Phân công rõ trách nhiệm cho từng thành viên trong đội ngũ. Thực hiện dạy học hỗ trợ học sinh theo thời khóa biểu cố định. - Chỉ đạo đổi mới căn bản toàn diện phương pháp dạy học, đổi mới nhận thức của tổ khối, của giáo viên và khuyến khích sự chủ động, năng động, sáng tạo của từng giáo viên và học sinh. Phối hợp với các tổ chức trong nhà trường thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không”, cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”; thể hiện bằng các việc làm cụ thể, giúp các em tiếp thu bài tốt, tự tin vươn lên. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ được giao đối với từng giáo viên và học sinh để từ đó điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ học sinh cho phù hợp nhằm đạt chỉ tiêu năm học. 4. Chỉ đạo tổ chuyên môn làm tốt vai trò nòng cốt trong công tác dạy học hỗ trợ học sinh : Tổ chuyên môn là một bộ phận trong công tác quản lý góp phần hoàn thành kế hoạch chung. Chỉ đạo tổ chuyên môn căn cứ kế hoạch hỗ trợ học sinh của trường, lên kế hoạch và triển khai dạy học hỗ trợ học sinh trong tổ một cách thường xuyên, kịp thời, có hồ sơ theo dõi đầy đủ. Tập hợp danh sách học sinh cần hỗ trợ báo cáo nhà trường. Họp tổ, nhóm chuyên môn để phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch hỗ trợ học sinh gặp khó khăn trong học tập. Đề xuất với nhà trường về cách hỗ trợ học sinh. Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn, triển khai chuyên đề, trao đổi, giúp đỡ giáo viên còn thiếu kinh nghiệm. Tăng cường rút kinh nghiệm, góp ý phương - 4 -
- pháp tổ chức và dạy các môn, dạy từng loại bài; chỉ rõ biện pháp kĩ thuật, cách giáo viên tiếp cận học sinh, kèm cặp giúp đỡ, tiếp sức từng học sinh một cách phù hợp trong từng tiết học trên lớp. Tổ chuyên môn phải kiểm tra, đôn đốc việc hỗ trợ học sinh của giáo viên, báo cáo thường xuyên cho nhà trường tiến độ tiếp thu của những em học sinh này. 5. Chỉ đạo giáo viên dạy học hỗ trợ học sinh: Giáo viên là nhân tố hết sức quan trọng, là người chủ đạo trong việc hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng, thành hay bại phần lớn do giáo viên. Giáo viên dạy hỗ trợ cho học sinh phải trên cơ sở tự nguyện, tâm huyết, tận tụy, chu đáo và Ban giám hiệu cần chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các vấn đề sau: a. Chỉ đạo giáo viên dạy học hỗ trợ học sinh. * Đối với học sinh nhận thức chậm do hoàn cảnh gia đình: Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ. Trước tiên là ảnh hưởng của cha mẹ rất sâu sắc. Vì vậy, giáo dục gia đình là một điểm mạnh, là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục trẻ. Trước những nguyên nhân xuất phát từ gia đình, giáo viên cần: - Tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, nắm bắt cụ thể hướng phấn đấu của học sinh vì mục tiêu, kế hoạch chung của lớp, của trường thông qua các buổi họp phụ huynh học sinh. - Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập và rèn luyện. Qua đó, giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập, phẩm chất, năng lực, các mặt tham gia hoạt động của con em mình thông qua sổ liên lạc. Giáo viên và phụ huynh cần có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp, động viên khuyến khích khi các em tiến bộ, nhắc nhở kịp thời khi các em có biểu hiện cần uốn nắn - Giáo viên chỉ mời phụ huynh khi cần thiết để bàn bạc biện pháp giáo dục các em (không nên lạm dụng). - 5 -
- - Giáo viên tạo điều kiện tốt nhất về thời gian để học sinh có thể hoàn thành bài học ngay tại lớp. * Đối với học sinh nhận thức chậm do mất căn bản: Kiến thức luôn cần có sự xuyên suốt. Do mất căn bản học sinh khó mà có nền tảng vững chắc để tiếp thu kiến thức mới. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần: - Hệ thống kiến thức theo chương trình. - Đưa ra nội dung bài tập phù hợp với kiến thức để học sinh có thể luyện tập kiến thức mới và ôn lại kiến thức đã học, có hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó cho các đối tượng - Dạy phân hoá học sinh. - Quan sát và theo dõi từng hoạt động của các em bằng nhiều hình thức tổ chức: thi đua cá nhân, thi đua theo nhóm, theo tổ, đố vui, giải trí Kết hợp kiểm tra nhận xét thường xuyên việc học của các em mỗi ngày nhằm rèn thói quen học bài và làm bài, kích thích hoạt động trí tuệ cho các em. - Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời với tác dụng: Kích thích sự say mê, hứng thú học tập của học sinh; giúp học sinh tự tin là mình học được, mình có thể học tốt như bạn Tuy nhiên, giáo viên không nên lạm dụng trách phạt nhiều sẽ hạn chế sự độc lập, sáng tạo của học sinh. * Đối với học sinh nhận thức chậm do ngại học, chưa chăm chỉ, chuyên cần hoặc chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập: Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do: không học bài, không làm bài, thường xuyên để quên sách vở ở nhà, vừa học vừa chơi, không tập trung Để các em có hứng thú học tập, giáo viên phải nắm vững và phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học, thay đổi bằng hình thức trò chơi, sử dụng phong phú đồ dùng học tập để giúp các em hiểu bài, tự bản thân mình giải quyết các bài tập thầy cô giao. Ngoài ra, giáo viên động viên các bạn trong tổ nhắc nhở và giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các em vấp phải những lỗi trên. - 6 -
- Ngoài ra, giáo viên cần trao đổi trực tiếp với từng đối tượng học sinh bằng lời nói, cử chỉ, mệnh lệnh thật thuyết phục. Bên cạnh phương pháp giáo dục trực tiếp với từng học sinh, giáo viên cần phải phối hợp phương pháp giáo dục tập thể. Dùng dư luận của tập thể tác động đến học sinh cá biệt, xây dựng dư luận tập thể lành mạnh thành khối đoàn kết với phương châm “Sống có trách nhiệm”, thiết lập mối quan hệ tốt giữa các thành viên, khơi gợi động lực học tập của học sinh vì danh dự tập thể mỗi thành viên tự giác điều khiển hành vi của bản thân. Trong quá trình dạy học, ta thấy rằng không ít học sinh bi quan, mất niềm tin, tự phụ, chủ quan trong học tập, trong sinh hoạt do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, có lúc ta thấy các em linh động, lại có lúc ta thấy các em chậm chạp tất cả các trường hợp đó, giáo viên phải tận dụng phương pháp này kích thích các em để các em biết kiềm chế bản thân, làm bớt những biểu hiện quá đà hoặc tạo hứng thú cho các em đang chậm chạp trở lại hoạt động vui chơi, hoà đồng với các bạn trong tổ, trong lớp. c. Chỉ đạo thực hiện thời gian hỗ trợ học sinh: Trong năm học: Thực hiện hỗ trợ học sinh ngay từ đầu năm học. Đối với lớp học 2 buổi/tuần hỗ trợ chủ yếu trong các tiết tăng cường; đối với lớp học 1 buổi/ ngày giáo viên chủ động hỗ trợ ngay trong tiết chính khóa ngoài ra có thể hỗ trợ chéo buổi. Trong quá trình lên lớp, giáo viên chú ý dạy học phân hóa học sinh, điều chỉnh nội dung, chương trình phù hợp với khả năng của học sinh. Thường xuyên theo dõi mức tiến bộ của học sinh qua các đợt kiểm tra cuối kỳ và cuối năm. Tuỳ theo kết quả kiểm tra học sinh mà thời gian hỗ trợ có thể tăng thêm vào các ngày thứ bảy hàng tuần. Trong hè: Căn cứ kết học tập các môn học và hoạt động giáo dục cũng như mức độ phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh để xây dựng kế hoạch thực hiện ôn tập, hỗ trợ cho học sinh trong hè và tổ chức kiểm tra lại, báo cáo kết quả về Phòng GD&ĐT. d. Một số lưu ý xây dựng chương trình dạy học hỗ trợ học sinh : - 7 -
- + Việc soạn bài: Phải thể hiện rõ nội dung kiến thức, kĩ năng cần được hỗ trợ cho học sinh tạo điều kiện cho các em tiến kịp các bạn trong lớp (Cần bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng và điều chỉnh nội dung). + Việc dạy học: Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý thuận tiện đối với học sinh cần hỗ trợ để giáo viên dễ dàng theo dõi, quan sát hỗ trợ kịp thời. Phân công học sinh học năng khiếu ngồi cạnh giúp học sinh khó khăn trong một số trường hợp. Xây dựng các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh phải hỗ trợ. Trong từng phần của tiết học, cần lựa chọn hình thức dạy học phù hợp, tiết kiệm thời gian để giáo viên quan tâm, giúp đỡ học sinh khó khăn nhiều hơn. Giảng dạy ở từng phần của mỗi tiết học cần lựa chọn hình thức hoạt động cho học sinh cả lớp một cách phù hợp, tiết kiệm được thời gian để tranh thủ tạo ra cơ hội cần thiết để giáo viên tiếp cận học sinh khó khăn nhằm kèm cặp, hướng dẫn, tiếp sức cần thiết trong mỗi tiết dạy. Ví dụ: Học sinh viết xấu, viết chậm, viết hay sai, giáo viên phải có kế hoạch dạy hỗ trợ cho các em viết trong các tiết Chính tả, tiết Tập viết. Có nhiều cách hỗ trợ cho các em đó như: Trong tiết Chính tả giáo viên vẫn dạy bình thường, đến phần hướng dẫn viết từ khó giáo viên gọi em đó lên bảng viết (có thể yêu cầu học sinh vừa đánh vần vừa viết) và yêu cầu đọc lại; hoặc khi đến phần viết vào vở giáo viên có thể sắp xếp học sinh này ngồi ngay trên bàn đầu để giáo viên vừa có thể đọc bài cho cả lớp viết vừa theo dõi hướng dẫn giúp đỡ học sinh đó bằng cách đọc chậm, thậm chí đánh vần giúp học sinh viết đúng dần dần học sinh viết được và nâng cao lên (đọc trơn cho học sinh viết chính tả). Trong phần đọc soát lỗi giáo viên cũng đọc chậm, đánh vần một số từ cho các em viết chậm soát lỗi để các em sửa được bài. Tăng cường công tác kiểm tra, chấm chữa, nhận xét của giáo viên đối với học sinh trong các tiết luyện tập, chấm hết tất cả các bài tập, chấm chữa kĩ các lỗi mà học sinh hay vấp phải. Thường xuyên khuyến khích, động viên để các em cố gắng. 6. Tổ chức Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. - 8 -
- Chúng ta biết rằng vai trò quyết định của chất lượng giáo dục không ở đâu khác, trước hết là ở đội ngũ giáo viên, nói đến chất lượng đội ngũ là nói đến năng lực chuyên môn, trình độ nghiệp vụ sư phạm, phẩm chất đạo đức, lòng yêu nghề, mến trẻ, Khuyết một trong những yếu tố này đều là không đảm bảo chất lượng. Vì vậy, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là một việc làm hết sức cần thiết. Trước hết, Cán bộ quản lý nhà trường phải bồi dưỡng tư tưởng, chính trị tác động chuyển hóa về nhận thức để giáo viên thấy được sự cần thiết phải đổi phương pháp dạy học và loại bỏ những chướng ngại vật về tâm lý. - Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ tính hiệu quả và tất yếu của việc dạy học hỗ trợ học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về chủ trương đường lối, quan điểm Giáo dục, làm cho đội ngũ nhà giáo nhận thức được vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình trong việc dạy học nói chung và dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng nói riêng. - Giao chỉ tiêu cụ thể về chất lượng giáo dục đối với mỗi giáo viên, mỗi tổ khối trong năm xem đó là tiêu chí để xếp loại thi đua cuối năm. Thứ hai, tổ chức bồi dưỡng giáo viên thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, triển khai chuyên đề liên quan đến công tác hỗ trợ học sinh chưa đạt chuẩn. Mục đích là giúp giáo viên nắm vững phương pháp, trao đổi về kinh nghiệm, giúp giáo viên vận dụng các quan điểm dạy học mới linh hoạt, đảm bảo tính thực tế trong điều kiện cho phép. Thứ ba, tăng cường công tác dự giờ thăm lớp. Đây là một hoạt động quan trọng cần được tiến hành một cách thường xuyên chu đáo về mọi mặt để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nhằm hỗ trợ học sinh đạt được kiến thức nhất định. Ban giám hiệu kết hợp với tổ trưởng chuyên môn đi dự giờ, quan sát lớp học. Sau tiết dạy, đánh giá, nhận xét chính xác, chân tình, có tính xây dựng, khuyến khích giáo viên phát triển những mặt mạnh, điều chỉnh những mặt còn hạn chế. Tổ chức cho giáo viên dự giờ các đồng chí giáo viên dạy giỏi, giáo viên có kinh nghiệm hỗ trợ học sinh để giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. - 9 -
- Chính việc dự giờ được tiến hành có kế hoạch nên Ban giám hiệu đã phát hiện ra những giáo viên có kinh nghiệm dạy học hỗ trợ học sinh, đồng thời cũng kịp thời giúp đỡ các đồng chí giáo viên còn non yếu về kinh nghiệm bản thân. Qua mỗi tiết dự giờ, bản thân tôi chú ý nhiều vào những cái được, chưa được để góp ý cho giáo viên. Với cách làm trên đã giúp đội ngũ nắm chắc các phương pháp dạy học đối với từng học sinh, phương pháp tiếp cận giúp đỡ học sinh trong từng tiết học. Thứ tư, tổ chức dạy học Hỗ trợ học sinh gắn với việc thực hiện các phong trào thi đua. Thường xuyên phối kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường để tổ chức các phong trào thi đua như: Thi đua “Dạy tốt, học tốt”; thi đua “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Phong trào “Xây dựng sáng tạo lớp học thân thiện, học sinh tích cực” và tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn trong năm để kích thích tính sáng tạo của giáo viên trong các giờ dạy góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng. Tổ chức phong trào “Thi giáo viên dạy giỏi” nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng, khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của giáo viên. Đây cũng là cơ hội để giáo viên thể hiện sự quan tâm tới từng học sinh trong lớp nhất là những em tiếp thu chậm, giảng dạy theo đúng chương trình chuẩn kiến thức kĩ năng đã quy định, sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp để học sinh được học tập vừa sức và hiệu quả. Và một điều quan trọng hơn đây là đợt sinh hoạt, giao lưu học hỏi, trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ, là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường. - Phong trào Làm và Sử dụng đồ dùng dạy học – phong trào đọc sách: Đi đôi với việc dạy – học, Ban giám hiệu chú trọng phát động trong giáo viên phong trào tự làm đồ dùng dạy học để phục vụ tốt hơn cho bài giảng của mình. Mỗi giáo viên đều phải đầu tư, suy nghĩ để sáng tạo ra đồ dùng dạy học sao cho phù hợp với bài dạy. Đồ dùng phát huy được tính tích cực thu hút học sinh học tập. - 10 -
- Phát động phong trào “Đọc sách” trong nhà trường để thu hút giáo viên thường xuyên đọc tài liệu tham khảo, sách báo, tạp chí có liên quan đến công tác giáo dục tại Thư viện để giáo viên tự trau dồi thêm về kiến thức, kỹ năng sư phạm cho bản thân. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy để phù hợp với đổi mới phương pháp hiện nay. Như vậy, thực hiện dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng gắn với việc thực hiện các phong trào thi đua ở đó ta sẽ thấy xuất hiện những tấm gương nhà giáo hết mình vì học sinh thân yêu và ở đó học sinh sẽ được quan tâm giúp đỡ phát huy tính tự chủ, tích cực và sáng tạo. 7. Phối hợp các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội trong việc hỗ trợ học sinh : Gia đình, nhà trường và xã hội luôn được coi là 3 nhân tố chính quan trọng trong công tác hỗ trợ học sinh. Mỗi nhân tố đều mang một vai trò riêng nhất định. Người quản lý cần làm tốt công tác phối hợp nêu cao tinh thần trách nhiệm huy động mọi nguồn lực của xã hội để chăm lo cho giáo dục. Thế nên, phải phối hợp thật tốt với Ban đại diện cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em phải hỗ trợ. Gặp gỡ trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Làm thế nào để họ thấy rằng việc hỗ trợ học sinh là việc làm thường xuyên liên tục và đây không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của cả gia đình. Trong cuộc họp giao ban hàng tháng với UBND xã và các trưởng ấp nhà trường báo cáo về những phụ huynh không quan tâm đến con em, còn để học sinh đi học không chuyên cần, hay nghỉ học ở nhà để có biện pháp nhắc nhở, động viên những phụ huynh này. Phối hợp với Chính quyền địa phương, các lực lượng trên địa bàn hỗ trợ vật chất cho những gia đình gặp khó khăn như: tặng sách vở, quần áo, đồ dùng học tập và khen thưởng cho học sinh đó có tiến bộ vươn lên trong học tập. - 11 -
- Kinh nghiệm cho thấy để công tác dạy học hỗ trợ sinh tốt thì việc phối hợp giữa các nhân tố gia đình - nhà trường - xã hội là rất cần thiết. Thiếu một trong ba yếu tố này thì kết quả việc dạy học hỗ trợ học sinh không cao. Nhận thức được điều đó người quản lý cần chủ động xây dựng mối quan hệ và thường xuyên duy trì các mối liên lạc với gia đình và xã hội thì việc hỗ trợ học tập và rèn luyện mới đạt hiệu quả. 8. Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học hỗ trợ học sinh. Bất kể hoạt động nào cũng cần kiểm tra đánh giá, đây là chức năng cơ bản cần thiết trong công tác quản lý. Kiểm tra công tác hỗ trợ học sinh để đánh giá, điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ phù hợp tình hình từng giai đoạn. - Kiểm tra việc thực hiện của giáo viên, thể hiện qua các hình thức: + Kiểm tra việc thực hiện nề nếp, tổ chức học sinh: thể hiện sắp xếp vị trí ngồi của học sinh chậm tiếp thu, sắp xếp đôi bạn cùng tiến. + Kiểm tra dạy học trên lớp: thông qua dự giờ quan sát cách giao việc, tiếp sức đối với học sinh và kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh sau tiết dạy. + Kiểm tra việc chấm, nhận xét, chữa bài cho học sinh. + Kiểm tra việc theo dõi học sinh. + Tổ chức nghiêm túc các kỳ kiểm tra định kỳ để nắm bắt thông tin đầy đủ, khách quan và thống kê chất lượng học tập của học sinh trong từng kỳ. - Kiểm tra hoạt động của tổ chuyên môn: kiểm tra công tác quản lý của tổ trưởng, hồ sơ chuyên môn gồm kế hoạch tuần, tháng, học kỳ, năm học, biên bản kiểm tra, phiếu đánh giá tiết dạy, biên bản kiểm tra hồ sơ tổ viên, chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn, thao giảng, dự giờ và việc chỉ đạo công tác hỗ trợ học sinh. Như vậy, sau khi triển khai các hoạt động cần có kế hoạch kiểm tra đánh giá một cách nghiêm túc. Đây là khâu quan trọng trong chu trình quản lý. 9. Khen thưởng, động viên. Công tác hỗ trợ học sinh là công tác cần thực hiện thường xuyên trong mỗi năm học, thực hiện ngày càng tốt việc dạy học hỗ trợ học sinh cần phải có sự động viên, khen thưởng nhằm tác động vào tâm lý người dạy và người học. - 12 -
- Đối với học sinh: Nhà trường cần có những hình thức khen thưởng học sinh chậm tiếp thu nhưng có tiến bộ trong học tập, học sinh đi học chuyên cần để động viên khích lệ tinh thần các em. Đồng thời cần quan tâm theo dõi và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của học sinh. Đối với giáo viên: Cần động viên khen thưởng để khẳng định công sức, nghị lực phấn đấu của giáo viên, tạo động lực cho giáo viên giảng dạy đạt kết quả cao hơn. Hằng năm, những giáo viên đạt thành tích xuất sắc được ghi sổ thi đua khen thưởng của nhà trường và đây là căn cứ để tính xét đánh giá viên chức, nâng lương trước thời hạn. Tóm lại, việc dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng hàng năm là một việc làm rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của cả tập thể và nhất là có một giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy phong trào này. Thật ra không có cách nào, giải pháp nào là hoàn hảo có hiệu quả cho mọi không gian và thời gian, chỉ có sự cố gắng áp dụng các giải pháp khéo léo vào hoàn cảnh cụ thể một cách hợp lý sẽ giúp ta thành công hơn. + Khả năng áp dụng của sáng kiến: Với những biện pháp nêu trên, sáng kiến không chỉ áp dụng ở trường tiểu học Tân Tiến mà còn áp dụng được rộng rãi trong các trường tiểu học. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Quản lí, chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường học là một quá trình lâu dài, liên tục, là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực của tập thể cán bộ, giáo viên; sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp; sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Tôi nhận thấy để quản lý chỉ đạo công tác dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng ở trường tiểu học người quản lý phải làm tốt một số việc sau: Trước hết người quản lý phải có năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý đồng thời phải có tâm huyết với nghề. Phải có sự chỉ đạo rõ ràng thống nhất cũng như sự quan tâm thỏa đáng. Kế hoạch tổ chức dạy học hỗ trợ học sinh phải gắn kết với việc thực hiện kế hoạch năm học với các mục tiêu cụ thể, giải pháp khả thi, huy - 13 -
- động được toàn bộ lực lượng của nhà trường cùng thực hiện trên cơ sở phân công rõ ràng. Người giáo viên phải thực sự coi mình là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng, phải kĩ lưỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh thì mới hiệu quả. Phối hợp thật tốt với các đoàn thể và Ban đại diện cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em phải hỗ trợ. Phải trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Có những hình thức khen thưởng những học sinh tiến bộ đồng thời theo dõi và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của giáo viên và học sinh. Đánh giá lợi ích thu được: Qua quá trình áp dụng thực tế tại nhà trường cho thấy sáng kiến của tôi đã góp phần không nhỏ vào thành tích chung của nhà trường. Trong năm học này việc quản lý, chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng trong nhà trường đã có những tiến bộ rõ rệt. - Kết quả điểm số học tập của học sinh: TS Điểm Tiếng Việt Điểm Toán NH HS 10 9 8 7 6 5 < 5 10 9 8 7 6 5 < 5 HKI 788 120 182 156 120 111 63 36 133 184 152 127 91 72 29 14-15 HKI 798 129 197 165 113 119 59 16 156 212 128 114 84 92 12 15-16 - Kết quả hoàn thành chương trình lớp học: HS HTCTLH HS HTCTLH Ghi chú Năm học TSHS (Lên lớp) (Lưu ban) TS % TS % 2013 - 2014 759 752 99,1 7 0,9 2014 - 2015 782 776 99,2 6 0,8 - 14 -
- Kết quả mà chúng tôi đã đạt được tuy chưa lớn lắm nhưng cũng đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường đồng thời huy động được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu. Số Năm Chức Nội dung công Họ và tên Nơi công tác TĐCM TT sinh danh việc hỗ trợ 1 Đào Thị Huấn 1971 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 1/1 2 Hồ Thị Phiên 1982 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/2 3 Nguyễn Thị Xuân 1969 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/3 4 Nguyễn Thị Xuyên 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/4 5 Hoàng Thị Tỉnh 1961 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/5 6 Lê Thị Nhâm 1979 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/1 7 Nguyễn Minh Nhâm 1975 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 2/2 8 Nguyễn T Hồng Thúy 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/3 9 Phí Thị Thành 1973 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/4 10 Tạ Thị Nga 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/5 11 Phạm Thị Thủy 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/6 12 Lê Thị Hò 1967 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 2/7 13 Nguyễn Thị Dung 1969 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/1 14 Lê Thị Bích Thủy 1978 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/2 15 Lê Thị Hải 1977 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/3 16 Nguyễn Thị Hương 1974 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/4 17 Phạm Thị Hằng 1966 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/5 18 Nguyễn Thị Huế 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/1 19 Phạm Thị Hảo 1979 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/2 - 15 -
- 20 Nguyễn Thị Tươi 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/3 21 Nguyễn T Thúy Hằng 1970 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/4 22 Vũ Thị Thanh Thúy 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/5 23 Khúc Thị Thu Thủy 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/1 24 Nguyễn Thị Diên 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/2 25 Nguyễn Thị Hường 1976 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/3 26 Nguyễn Thị Thê 1967 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/4 27 Nguyễn Thị Hằng 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/5 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tân Tiến, ngày 15 tháng 2 năm 2016 Người nộp đơn Hoàng Thị Nga - 16 -
- + Khả năng áp dụng của sáng kiến: Với những biện pháp nêu trên, sáng kiến không chỉ áp dụng ở trường tiểu học Tân Tiến mà còn áp dụng được rộng rãi trong các trường tiểu học. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Đối với người quản lý: Phải có năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý đồng thời phải có tâm huyết với nghề. Phải có sự chỉ đạo rõ ràng thống nhất cũng như sự quan tâm thỏa đáng. Kế hoạch tổ chức dạy học hỗ trợ học sinh phải gắn kết với việc thực hiện kế hoạch năm học với các mục tiêu cụ thể, giải pháp khả thi, huy động được toàn bộ lực lượng của nhà trường cùng thực hiện trên cơ sở phân công rõ ràng. - Đối với giáo viên: Phải thực sự coi mình là yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng, phải kĩ lưỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh thì mới hiệu quả. Phối hợp thật tốt với Ban đại diện cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em phải hỗ trợ. Phải trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Đánh giá lợi ích thu được: Qua quá trình áp dụng thực tế tại nhà trường cho thấy sáng kiến của tôi đã góp phần không nhỏ vào thành tích chung của nhà trường. Trong năm học này việc quản lý, chỉ đạo dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng trong nhà trường đã có những tiến bộ rõ rệt. - Kết quả điểm số học tập của học sinh cuối HKI năm học 2015 - 2016: TS Điểm Tiếng Việt Điểm Toán HS 10 9 8 7 6 5 < 5 10 9 8 7 6 5 < 5 798 129 197 165 113 119 59 16 156 212 128 114 84 92 12 - 17 -
- Kết quả mà chúng tôi đã đạt được tuy chưa lớn lắm nhưng cũng đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu. Số Năm Chức Nội dung công Họ và tên Nơi công tác TĐCM TT sinh danh việc hỗ trợ 1 Đào Thị Huấn 1971 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 1/1 2 Hồ Thị Phiên 1982 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/2 3 Nguyễn Thị Xuân 1969 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/3 4 Nguyễn Thị Xuyên 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/4 5 Hoàng Thị Tỉnh 1961 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 1/5 6 Lê Thị Nhâm 1979 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/1 7 Nguyễn Minh Nhâm 1975 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 2/2 8 Nguyễn T Hồng Thúy 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/3 9 Phí Thị Thành 1973 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/4 10 Tạ Thị Nga 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/5 11 Phạm Thị Thủy 1971 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 2/6 12 Lê Thị Hò 1967 TH Tân Tiến GV CĐSP GV Dạy lớp 2/7 13 Nguyễn Thị Dung 1969 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/1 14 Lê Thị Bích Thủy 1978 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/2 15 Lê Thị Hải 1977 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/3 16 Nguyễn Thị Hương 1974 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/4 17 Phạm Thị Hằng 1966 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 3/5 18 Nguyễn Thị Huế 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/1 19 Phạm Thị Hảo 1979 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/2 20 Nguyễn Thị Tươi 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/3 - 18 -
- 21 Nguyễn T Thúy Hằng 1970 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/4 22 Vũ Thị Thanh Thúy 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 4/5 23 Khúc Thị Thu Thủy 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/1 24 Nguyễn Thị Diên 1980 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/2 25 Nguyễn Thị Hường 1976 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/3 26 Nguyễn Thị Thê 1967 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/4 27 Nguyễn Thị Hằng 1981 TH Tân Tiến GV ĐHSP GV Dạy lớp 5/5 Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tân Tiến, ngày 15 tháng 2 năm 2016 Người nộp đơn Hoàng Thị Nga XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG - 19 -
- * Tổ chức Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Trước hết, Cán bộ quản lý nhà trường phải bồi dưỡng tư tưởng, chính trị tác động chuyển hóa về nhận thức để giáo viên thấy được sự cần thiết phải đổi phương pháp dạy học và loại bỏ những chướng ngại vật về tâm lý. - Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ tính hiệu quả và tất yếu của việc dạy học hỗ trợ học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về chủ trương đường lối, quan điểm Giáo dục, làm cho đội ngũ nhà giáo nhận thức được vị trí, vai trò, nhiệm vụ của mình trong việc dạy học nói chung và dạy học hỗ trợ học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức kỹ năng nói riêng. - Giao chỉ tiêu cụ thể về chất lượng giáo dục đối với mỗi giáo viên, mỗi tổ khối trong năm xem đó là tiêu chí để xếp loại thi đua cuối năm. Thứ hai, tổ chức bồi dưỡng giáo viên thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, triển khai chuyên đề liên quan đến công tác hỗ trợ học sinh chưa đạt chuẩn. Mục đích là giúp giáo viên nắm vững phương pháp, trao đổi về kinh nghiệm, giúp giáo viên vận dụng các quan điểm dạy học mới linh hoạt, đảm bảo tính thực tế trong điều kiện cho phép. Thứ ba, tăng cường công tác dự giờ thăm lớp. Đây là một hoạt động quan trọng cần được tiến hành một cách thường xuyên chu đáo về mọi mặt để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nhằm hỗ trợ học sinh đạt được kiến thức nhất định. Ban giám hiệu kết hợp với tổ trưởng chuyên môn đi dự giờ, quan sát lớp học. Sau tiết dạy, có đánh giá, nhận xét chính xác, chân tình, có tính xây dựng, - 20 -

